Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam nhích thêm 10 - 21 USD/tấn. Trong khi đó, Philippines có thể tăng mạnh nhập khẩu, thậm chí lập kỷ lục mới do chi phí đầu vào leo thang và nguy cơ El Niño làm giảm sản lượng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 24/4/2026: Giá gạo xuất khẩu bật tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không biến động so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 8.400 – 8.500 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 24/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 24/4/2026 |
Phân khúc nếp đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không đổi. Cụ thể, giá cám hiện giao dịch ở mức 6.600 – 6.700 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 24/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.200; Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 24/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam tăng vọt 21 USD/tấn trong ngày giao dịch gần nhất, lên mức 486 - 490 USD/tấn. Tương tự, gạo trắng 5% tấm tăng 10 USD/tấn, lên 386 - 390 USD/tấn. Riêng gạo thơm 5% tấm vẫn được chào bán ở mức 490 - 500 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm ghi nhận mức tăng 2 USD/tấn, dao động trong khoảng 388 - 392 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng tăng 2 USD/tấn, được chào giá ở mức 358 - 362 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm cũng tăng thêm 4 USD/tấn, dao động ở mức 346 - 350 USD/tấn; trong khi gạo đồ 5% tấm vẫn đi ngang ở mốc 344–348 USD/tấn.
Giá phân bón và nhiên liệu tăng mạnh, cộng với nguy cơ El Niño quay trở lại, đang đẩy ngành lúa gạo Philippines vào thế khó, kéo theo nguy cơ nhập khẩu gạo lập kỷ lục mới trong năm 2026. Theo Bộ Nông nghiệp Philippines, sản lượng lúa (palay) năm nay có thể giảm xuống chỉ còn 18,6–18,8 triệu tấn, thấp hơn đáng kể so với dự báo ban đầu 20,28 triệu tấn và là mức thấp nhất trong một thập kỷ.
Diễn biến này phản ánh rõ áp lực “kép” mà nông nghiệp Philippines đang đối mặt. Một mặt, chi phí đầu vào leo thang khi giá phân bón đã lên tới trung bình 2.500 peso/bao 50 kg, thậm chí 2.900 peso tại vùng Ilocos – vựa lúa trọng điểm. Mặt khác, nguy cơ El Niño với xác suất lên tới 79% trong giai đoạn tháng 6–8, thậm chí kéo dài đến đầu năm 2027, đe dọa trực tiếp đến năng suất cây trồng.
Trong bối cảnh đó, nhập khẩu gạo được xem là “van điều tiết” tất yếu. Năm 2024, Philippines đã nhập kỷ lục 4,81 triệu tấn do El Niño nghiêm trọng, và năm nay con số này nhiều khả năng chạm hoặc vượt mốc 4,8 triệu tấn. Thực tế, chỉ trong hơn ba tháng đầu năm, lượng gạo nhập khẩu đã đạt 1,26 triệu tấn, tăng hơn 30% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, rủi ro không chỉ đến từ thời tiết. Các tổ chức quốc tế cảnh báo xung đột Trung Đông đang đẩy chi phí năng lượng và phân bón tăng cao, tạo cú sốc chi phí cho sản xuất nông nghiệp toàn cầu. Khi yếu tố địa chính trị cộng hưởng với El Niño, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung và biến động giá gạo sẽ càng rõ nét.
Philippines đang đứng trước vòng xoáy bất lợi, chi phí tăng – sản lượng giảm – nhập khẩu tăng. Diễn biến này không chỉ tác động tới an ninh lương thực trong nước mà còn có thể gây hiệu ứng lan rộng lên thị trường gạo toàn cầu trong thời gian tới.