Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tiếp tục tăng tích cực với gạo nguyên liệu. Trong khi đó, xuất khẩu gạo của Ấn Độ giảm 15% trong tháng 3 do xung đột Tây Á làm gián đoạn thị trường Vùng Vịnh.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 23/4/2026: Giá gạo tăng nhẹ, xuất khẩu Ấn Độ lao dốc vì xung đột Tây Á |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn giao dịch chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về lượng ít, giá gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu R 504 tăng 100 đồng/kg, lên mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 tăng 250 đồng/kg, đưa giá giao dịch lên 8.400 – 8.500 đồng/kg. Tuy nhiên, giá gạo thành phẩm OM 5451 hiện ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 hiện ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 23/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 23/4/2026 |
Phân khúc nếp không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 23/4/2026 |
Giá các loại phụ phẩm duy trì đi ngang. Cụ thể, giá cám hiện giao dịch ở mức 6.600 – 6.700 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn về ít, giá biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác, giao dịch không nhiều, giá ổn định.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay ổn định so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.200; Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 23/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá chào bán gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức 490 - 500 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 465 - 469 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm dao động 376 - 380 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm vẫn có mức giá cao nhất khu vực, khoảng 395 - 399 USD/tấn. Trong khi đó, Pakistan chào giá 356 - 360 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm dao động 344 - 348 USD/tấn.
Theo Financial Express, xuất khẩu nông sản và thực phẩm chế biến của Ấn Độ trong năm tài khóa 2025 - 2026 ghi nhận mức tăng nhẹ 2%, đạt 25,71 tỷ USD, song bức tranh tổng thể lại bị phủ bóng bởi sự suy giảm của mặt hàng chủ lực là gạo. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu gạo giảm 7,5%, xuống còn 11,53 tỷ USD; riêng tháng 3/2026 giảm sâu 15%, chỉ đạt 0,99 tỷ USD.
Diễn biến này phản ánh rõ tác động của bất ổn địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Tây Á – thị trường tiêu thụ trọng điểm chiếm tới 70% lượng gạo basmati xuất khẩu của Ấn Độ. Xung đột tại Trung Đông không chỉ làm gián đoạn nhu cầu từ các quốc gia Vùng Vịnh như Iran, Ả Rập Xê Út mà còn gây tắc nghẽn chuỗi logistics, đẩy chi phí vận chuyển tăng cao, kéo theo sự đình trệ trong giao thương.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định sự sụt giảm này mang tính thời điểm hơn là xu hướng dài hạn. Nhu cầu gạo toàn cầu vẫn duy trì ổn định, trong khi lợi thế cạnh tranh của gạo Ấn Độ đang được củng cố khi giá gạo từ Thái Lan, Việt Nam và Pakistan tăng do nguồn cung thắt chặt.
Trong ngắn hạn, thị trường có thể xuất hiện nhịp điều chỉnh khi vụ thu hoạch tại Đông Nam Á bước vào cao điểm cuối tháng. Dù vậy, rủi ro khí hậu, đặc biệt nguy cơ siêu El Niño gây hạn hán trên diện rộng tại châu Á, cùng với biến động giá nhiên liệu và tỷ giá, vẫn là những yếu tố có thể giữ mặt bằng giá gạo ở mức cao.
Ở chiều ngược lại, nguồn cung nội địa của Ấn Độ lại khá tích cực. Sản lượng niên vụ 2025–2026 dự kiến vượt kỷ lục 150 triệu tấn, tạo nền tảng vững cho xuất khẩu khi các nút thắt logistics được tháo gỡ. Điều này cho thấy thị trường gạo toàn cầu đang chịu tác động đan xen giữa địa chính trị, khí hậu và yếu tố cung – cầu, khiến triển vọng giá vẫn tiềm ẩn nhiều biến động khó lường.