| Giá lúa gạo hôm nay 14/7/2026: Lúa gạo đứng giá, tấm thơm tăng nhẹ Giá lúa gạo hôm nay 15/7/2026: Nhiều mặt hàng lúa tươi tăng giá Giá lúa gạo hôm nay 16/7/2026: Thị trường nội địa biến động giảm nhẹ |
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 17/7/2026: Giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 100 đồng/kg, lên mức 9.200 - 9.300 đồng/kg. Trong khi đó, gạo nguyên liệu CL 555 ổn định ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 17/7/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine hiện dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 17/7/2026 |
Phân khúc nếp đứng giá so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg;…
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám hiện ở mức 7.900 - 8.050 đồng/kg; giá tấm thơm ở mức 8.200 - 8.300 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 17/7/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng giao dịch ít, giá biến động không nhiều.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.900 - 7.100 đồng/kg; giá lúa tươi IR 50404 ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động từ 6.300 - 6.500 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) trong khoảng 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.300 - 6.500 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 17/7/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trong bối cảnh giá gạo xuất khẩu của Việt Nam và nhiều nước vẫn duy trì ổn định, những rủi ro đối với thị trường lương thực toàn cầu lại đang gia tăng từ các yếu tố ngoài cung - cầu truyền thống. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện được chào bán ở mức 410 - 414 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với Ấn Độ (350 - 354 USD/tấn) nhưng thấp hơn Thái Lan (471 - 475 USD/tấn). Mặt bằng giá chưa biến động mạnh cho thấy thị trường vẫn đang trong giai đoạn quan sát trước các cú sốc tiềm tàng.
Đáng chú ý, giới phân tích đang đồng thời theo dõi hai rủi ro lớn là hiện tượng siêu El Niño và xung đột tại Trung Đông. Theo Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Mỹ (NOAA), El Niño đã hình thành và có 63% khả năng phát triển thành siêu El Niño. Goldman Sachs dự báo hiện tượng này có thể đẩy giá lương thực toàn cầu tăng khoảng 15,8%, với tác động kéo dài đến năm 2028 khi nhiều vùng sản xuất lớn, đặc biệt là Ấn Độ, đối mặt nguy cơ thiếu mưa, ảnh hưởng đến nguồn cung gạo, lúa mì và mía đường.
Trong khi đó, xung đột Iran tiếp tục tạo áp lực lên chi phí sản xuất nông nghiệp thông qua giá năng lượng và phân bón. Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI) cho biết khoảng 3,9 triệu tấn phân bón xuất khẩu từ khu vực vùng Vịnh, tương đương 30% lượng xuất khẩu hằng năm, đang bị đình trệ. Nếu tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz kéo dài, chi phí vận tải, nhiên liệu và vật tư nông nghiệp sẽ tiếp tục leo thang, làm gia tăng áp lực lên giá lương thực toàn cầu. Với Việt Nam, đây là yếu tố cần theo dõi chặt chẽ, bởi dù có thể hưởng lợi từ nhu cầu nhập khẩu tăng, chi phí đầu vào và biến động thương mại cũng sẽ tạo sức ép đáng kể lên hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo.