| Giá lúa gạo hôm nay 7/7/2026: Lúa tươi tăng giá, gạo bình ổn Giá lúa gạo hôm nay 8/7/2026: Lúa tươi tiếp đà tăng giá Giá lúa gạo hôm nay 9/7/2026: Thị trường lúa trong nước có nhiều tín hiệu tích cực |
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 10/7/2026: Thị trường trong nước bình ổn, thị trường xuất khẩu biến động nhẹ. |
Thị trường lúa tại khu vực ĐBSCL đi ngang sau nhiều biến động tăng giá ngày hôm qua.
Bảng giá lúa hôm nay 10/7/2026 tại một số tỉnh khu vực ĐBSCL
| Giống lúa | Giá (đồng/ kg) |
| OM 18 (tươi) | 6.400 – 6.700 |
| OM 18 (khô) | 7.100 – 7.400 |
| Đài Thơm 8 (tươi) | 6.400 – 6.700 |
| Đài Thơm 8 (khô) | 7.100 – 7.400 |
| OM 380 (tươi) | 6.400 – 6.600 |
| OM 4218 (tươi) | 6.000 – 6.200 |
| IR 50404 (tươi) | 5.500 - 5.700 |
| IR 50404 (khô) | 6.100 – 6.400 |
| OM 34 (tươi) | 5.400 – 5.700 |
| OM 34 (khô) | 6.100 – 6.400 |
| OM 5451 (tươi) | 5.700 – 6.000 |
| OM 5451 (khô) | 6.100 – 7.000 |
| Nàng Hoa 9 (tươi) | 6.500 - 6.800 |
| OM 504 (tươi) | 5.100 - 5.300 |
| Jasmine | 6.600 – 6.900 |
| Lúa Nhật (tươi) | 7.300 – 7.600 |
| ST24-ST25 (thường) | 7.400 – 7.600 |
| RVT (tươi) | 6.600 – 6.900 |
| Japonica | 6.700 – 7.000 |
| Hàm Châu 105 | 5.600 – 5.900 |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua nhộn nhịp hơn, giá lúa biến động. Tại Đồng Tháp, nông dân neo giá cao nhưng giao dịch mua bán chậm.
Tại An Giang, nông dân chào giá nhích với lúa thơm đẹp, giao dịch mua bán ít. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua mới lai rai, giá lúa các loại đồng loạt tăng.
Bên cạnh đó, thị trường bình ổn, chưa có biến động mới so với hôm qua 9/7 khi nếp Long An có giá 7.100 – 7.300 đồng/kg.
| Giống nếp | Giá (đồng/ kg) |
| Nếp IR 4625 (tươi) | 7.300 - 7.500 |
| Nếp IR 4625 (khô) | 9.500 - 9.700 |
| Nếp 3 tháng (tươi) | 7.300 – 7.500 |
| Nếp 3 tháng (khô) | 9.600 - 9.700 |
| Nếp Long An | 7.100 – 7.300 |
Giá gạo trong nước
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; riêng gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg, hiện dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg.
| Loại gạo | Giá (đồng/kg) |
| Gạo nguyên liệu OM 5451 | 9.500 - 9.600 |
| Gạo nguyên liệu Sóc thơm | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu IR 504 | 8.800 - 8.900 |
| Gạo nguyên liệu CL 555 | 9.200 - 9.300 |
| Gạo nguyên liệu OM 18 | 8.700 - 8.850 |
| Gạo nguyên liệu OM 380 | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu Đài thơm 8 | 9.200 - 9.400 |
| Gạo thành phẩm IR 504 | 10.750 - 10.090 |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường giao dịch ảm đạm, giá gạo ít biến động mới. Tại An Giang, giao dịch mua bán khá, giá gạo các loại bình ổn.
Tại khu vực Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng vắng, giá gạo nguyên liệu các loại ổn định. Tại An Cư (Đồng Tháp), giá gạo thành phẩm chợ có xu hướng tăng do lượng ít, gạo các loại khác bình giá.
Trên thị trường gạo, tại các chợ lẻ giá gạo có sự biến động nhẹ. Hôm nay, hiện giá gạo thơm Jasmine tăng 1.000 đồng/kg, dao động ở mức 16.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen vẫn tiếp tục có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 14.000 đồng/kg.
| Giống gạo | Giá (đồng/ kg) |
| Nàng Nhen | 28.000 |
| Gạo Trắng | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Thường | 14.000 – 15.000 |
| Gạo Thơm | 17.000 - 22.000 |
| Gạo thơm Jasmine | 17.000 – 18.000 |
| Gạo Nàng Hoa | 21.000 |
| Gạo Tẻ thường | 13.000 - 14.000 |
| Gạo Thơm Thái hạt dài | 20.000 - 22.000 |
| Gạo Hương Lài | 22.000 |
| Gạo Thơm Đài Loan | 20.000 |
| Gạo Nhật | 22.000 |
| Gạo Sóc thường | 16.000 – 17.000 |
| Gạo Sóc Thái | 20.000 |
Mặt hàng phụ phẩm
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.800 - 8.100 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.00 - 8.100 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513-517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 510-520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 348-352 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 478 - 482 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 409 - 413 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 350 - 354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn
Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng về sản lượng, khẳng định vị thế của hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm khiến kim ngạch chưa đạt kỳ vọng.
Trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, nâng cao chất lượng, phát triển sản xuất giảm phát thải và mở rộng thị trường được xem là những giải pháp then chốt để gia tăng giá trị hạt gạo Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 6 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu khoảng 5,2 triệu tấn gạo, thu về 2,38 tỷ USD, tăng 9,9% về khối lượng nhưng giảm 2,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Việc kim ngạch giảm trong khi sản lượng tăng chủ yếu do giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ đạt khoảng 459,6 USD/tấn, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Điều này phản ánh áp lực cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế vẫn ở mức cao, dù nhu cầu nhập khẩu của nhiều quốc gia tiếp tục được duy trì. Philippines vẫn là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc đứng thứ hai với tỷ trọng 19,4%, tiếp theo là Ghana với 8,5%.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc đang có sự phục hồi mạnh khi giá trị xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm tăng tới 87% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, xuất khẩu sang Philippines giảm 3,8% và Ghana giảm 24,7%. Đặc biệt, Iraq nổi lên là thị trường tăng trưởng đột biến với kim ngạch tăng gấp 132,4 lần, cho thấy dư địa mở rộng thị trường của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Những diễn biến trên cho thấy bên cạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống, doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang từng bước mở rộng thị trường, giảm dần sự phụ thuộc vào một số đối tác lớn, góp phần nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thương mại toàn cầu.