![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 30/6/2026: Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm nhích tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ 50 - 100 đồng/kg so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 50 đồng/kg, giao dịch ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg, đưa giá lên 9.200 - 9.300 đồng/kg. Tuy nhiện, gạo OM 5451 ở mức 9.550 - 9.650 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 - 9.450 đồng/kg; gạo OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 - 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 30/6/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine hiện dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 30/6/2026 |
Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; …
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng nhẹ 50 đồng/kg, đạt 7.950 - 8.100 đồng/kg. Trong khi giá tấm thơm ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 30/6/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi IR 50404 hiện ổn định ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động ở mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) hiện ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động từ 5.700 - 5.800 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 30/6/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện ở mức 495 - 500 USD/tấn; gạo Jasmine dao động từ 508 - 512 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm giao dịch trong khoảng 412 - 416 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan được chào bán từ 480 – 484 USD/tấn, cao nhất trong khu vực. Sản phẩm cùng loại của Pakistan được giao dịch ở mức thấp hơn, với 399 - 403 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo của Ấn Độ vẫn ở vùng thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu lớn, với gạo trắng 5% tấm đạt 350 - 354 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm ở mức 341 - 345 USD/tấn.
Trước thời điểm vụ lúa thứ hai của Thái Lan bắt đầu thu hoạch từ cuối tháng 7, thị trường gạo thế giới đang đứng trước nhiều kỳ vọng nhưng cũng không ít bất định. Dù nguồn cung mới được dự báo sẽ sớm xuất hiện, giới xuất khẩu vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về khả năng giá gạo giảm, khi lực mua quay trở lại và những rủi ro thời tiết tiếp tục tạo ra tâm lý thận trọng trên thị trường.
Diễn biến giá gần đây phản ánh rõ sự giằng co giữa cung và cầu. Giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đã tăng lên 483 USD/tấn FOB vào ngày 25/6, cao hơn 34 USD/tấn so với một tháng trước. Động lực chính đến từ nhu cầu nhập khẩu phục hồi của Philippines, Malaysia và Iraq, cùng hoạt động mua bù trạng thái bán của các nhà xuất khẩu nhằm thực hiện các hợp đồng đã ký.
Số liệu thương mại cũng cho thấy sức mua vẫn khá tích cực. Chỉ trong bốn tháng đầu năm 2026, Philippines đã nhập gần 127.000 tấn gạo Thái Lan, tương đương 68% tổng lượng mua của cả năm 2025. Malaysia và Iraq cũng duy trì lượng nhập khẩu đáng kể, góp phần tạo lực đỡ cho giá trong bối cảnh nguồn cung ngắn hạn chưa thực sự dồi dào.
Tuy nhiên, triển vọng những tuần tới sẽ phụ thuộc lớn vào tốc độ thu hoạch và lượng gạo mới được đưa ra thị trường. Một số doanh nghiệp kỳ vọng nguồn cung bổ sung sẽ khiến giá giảm nhẹ, đặc biệt nếu chạm vùng 440–450 USD/tấn FOB, qua đó kích thích thêm nhu cầu mua. Ngược lại, nhiều ý kiến cho rằng sản lượng vụ tháng 7 có thể không lớn, trong khi các nhà xuất khẩu vẫn phải tiếp tục gom hàng để giao các hợp đồng đã ký.
Bên cạnh yếu tố cung – cầu, thời tiết tiếp tục là biến số quan trọng. Lượng mưa hiện thấp hơn trung bình làm dấy lên lo ngại về nguồn nước phục vụ sản xuất, dù một số doanh nghiệp cho rằng ảnh hưởng mới chỉ mang tính cục bộ. Trong bối cảnh USDA dự báo sản lượng gạo Thái Lan niên vụ 2025–2026 giảm 0,7% xuống còn 20,7 triệu tấn, diễn biến mùa mưa từ nay đến tháng 10 sẽ là yếu tố quyết định xu hướng giá gạo Thái Lan trong thời gian tới.