![]() |
| Giá thép hôm nay 29/6/2026: Thị trường thép quốc tế đồng loạt sụt giảm ngay đầu tuần |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 9h30 ngày 29/6/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 10.100 - 15.460 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.250 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.430 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.430 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.250 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.230 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 15.350 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.460 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.360 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.330 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.430 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 10.100 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.220 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.330 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 10.100 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 9h30 (giờ Việt Nam) ngày 29/6, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.062 CNY/tấn. |
Thị trường thép thế giới bước vào tuần giao dịch mới với tín hiệu kém khả quan khi giá các mặt hàng kim loại đồng loạt suy giảm. Đà đi xuống này chịu áp lực lớn từ những báo cáo mới nhất về sản lượng gang toàn cầu sụt giảm trong 5 tháng đầu năm, làm dấy lên những lo ngại sâu sắc về một chu kỳ suy yếu của nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn.
Mở cửa phiên giao dịch ngày 29/6, sắc đỏ bao trùm các sàn giao dịch phái sinh lớn tại châu Á. Trên Sàn Giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh kỳ hạn tháng 7/2026 ghi nhận mức giảm 0,2% (tương đương giảm 6 CNY), lùi về mức 3.140 CNY/tấn. Cùng lúc đó, các mặt hàng nguyên liệu thô cũng không tránh khỏi xu hướng điều chỉnh. Tại Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên, giá quặng sắt kỳ hạn giảm 0,5%, sụt 3,5 CNY xuống còn 735 CNY/tấn. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận tại thị trường Singapore khi giá quặng sắt kỳ hạn tháng 7 trên sàn này giảm 0,7 USD, giao dịch ở mức 98 USD/tấn.
Sự sụt giảm về giá có mối liên hệ chặt chẽ với tình hình sản xuất thực tế được phản ánh qua số liệu tổng hợp. Theo dữ liệu từ World Steel Association (WorldSteel) công bố, tổng sản lượng gang toàn cầu trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 569,15 triệu tấn, sụt giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu này, sản lượng từ công nghệ hoàn nguyên trực tiếp đạt 47,12 triệu tấn, phần còn lại gồm 522,03 triệu tấn được sản xuất bằng công nghệ lò cao truyền thống. Trung Quốc tiếp tục giữ vững vị thế là quốc gia sản xuất gang lớn nhất thế giới với 354,7 triệu tấn, tuy nhiên con số này đã giảm 3,1% so với cùng kỳ. Trái lại, Ấn Độ duy trì được đà mở rộng khi đạt 66,6 triệu tấn, tăng trưởng 4,4%, trong khi Nhật Bản đứng ở vị trí thứ ba với 24,25 triệu tấn, ghi nhận mức giảm nhẹ 1%.
Đối với phân khúc thép không gỉ, số liệu từ các cơ quan theo dõi thị trường cho thấy hoạt động thương mại của Trung Quốc đang có sự sụt giảm về quy mô tổng thể nhưng xuất khẩu ròng vẫn tăng nhờ nhập khẩu giảm sâu. Cụ thể, trong 5 tháng đầu năm, quốc gia này nhập khẩu 634,8 nghìn tấn thép không gỉ, giảm 11,6%, trong khi xuất khẩu đạt 1,6 triệu tấn, giảm mạnh 30,8% so với cùng kỳ năm trước. Dẫu vậy, xuất khẩu ròng vẫn tăng 29,8% khi đạt 978 nghìn tấn.
Tính riêng trong tháng 5, nhập khẩu thép không gỉ của Trung Quốc chỉ đạt 91,1 nghìn tấn, giảm 46,3% so với tháng 4 và giảm 27,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Ở chiều xuất khẩu, sản lượng đạt 415,4 nghìn tấn, tăng 5,3% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn 5,05% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả là xuất khẩu ròng của tháng 5 đạt 324,3 nghìn tấn, đạt mức tăng trưởng 4,18%.
Thị trường quốc tế trong ngắn hạn được nhận định sẽ tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh do sự phân hóa rõ rệt giữa nguồn cung nguyên liệu đầu vào và sức tiêu thụ thành phẩm. Điểm sáng duy nhất hiện tại nằm ở phân khúc nguyên liệu thô khi lượng nhập khẩu phế liệu thép không gỉ của Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm đạt 78,9 nghìn tấn, tăng trưởng ấn tượng tới 75% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ tính riêng tháng 5, lượng phế liệu nhập khẩu đạt 17 nghìn tấn, dù giảm nhẹ 8,7% so với tháng 4 nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng 34,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Mặc dù nhu cầu đối với nguyên liệu tái chế tại Trung Quốc có xu hướng gia tăng, giới phân tích cho rằng đà phục hồi toàn diện của giá thép thế giới sẽ gặp nhiều thách thức lớn. Việc sản lượng gang từ các quốc gia đầu tàu như Trung Quốc và Nhật Bản liên tục đi xuống là minh chứng rõ nét cho thấy các nhà máy luyện kim đang phải chủ động tiết giảm công suất để đối phó với tình trạng thừa cung nội địa và sức mua yếu từ thị trường bất động sản cũng như công nghiệp chế tạo. Chừng nào hoạt động giao thương thép thành phẩm toàn cầu chưa thoát khỏi áp lực suy giảm và nhu cầu tiêu thụ thực tế tại các nền kinh tế lớn chưa có dấu hiệu khởi sắc, giá thép và các loại quặng sắt nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trạng thái tích lũy vùng thấp hoặc biến động giảm nhẹ trong giai đoạn tới.