Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động trái chiều với một số chủng loại gạo nguyên liệu, phụ phẩm tăng nhẹ.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 20/4/2026: Giá gạo nguyên liệu trái chiều, phụ phẩm tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ 50 – 100 đồng/kg so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng thêm 50 đồng/kg, dao động trong khoảng 8.100 – 8.200 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 tăng nhẹ 50 đồng/kg, đạt mức 10.750 – 10.900 đồng/kg. Tuy nhiên, giá gạo nguyên liệu CL 555 quay đầu giảm 50 đồng/kg, xuống còn 8.150 – 8.250 đồng/kg. Trong khi đó, gạo OM 18 hiện ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 21/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 21/4/2026 |
Phân khúc nếp duy trì ổn định. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám tăng 100 đồng/kg và hiện giao dịch ở mức 6.600 – 6.700 đồng/kg. Trong khi giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 21/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng giao dịch ít, giá biến động không nhiều.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.200; Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 21/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tiếp tục được giao dịch quanh mốc 490 - 500 USD/tấn, gạo Jasmine đạt 465 - 469 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm có giá 376 - 380 USD/tấn.
Tại các thị trường khác trong khu vực, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đứng ở mức cao hơn, với 395 - 399 USD/tấn. Còn tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm hiện đang dao động ở mức 356 - 360 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ dao động trong khoảng 342 - 346 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm ở mức 344 - 348 USD/tấn.
Philippines đang phát đi tín hiệu siết lại chính sách thương mại đối với mặt hàng lúa gạo – trụ cột an ninh lương thực khi chính thức khởi động điều tra tự vệ trong bối cảnh nhập khẩu tăng vọt và gây sức ép lên sản xuất nội địa.
Theo thông báo gửi Tổ chức Thương mại Thế giới, cuộc điều tra được triển khai từ ngày 26/3, bao phủ toàn bộ các chủng loại gạo. Động thái này xuất phát từ kiến nghị của các tổ chức nông dân, trong đó có Liên đoàn Nông dân Tự do và Đảng Magsasaka, với lập luận rằng nhập khẩu gia tăng đang trực tiếp làm suy yếu ngành lúa gạo trong nước.
Dữ liệu từ Cục Công nghiệp Thực vật Philippines cho thấy quy mô vấn đề đang vượt ngưỡng kiểm soát. Chỉ trong quý I, Philippines đã nhập tới 1,26 triệu tấn gạo, tăng gần 37% so với cùng kỳ và cao hơn nhiều so với mức đề xuất 750.000 tấn. Tính đến đầu tháng 4, con số này đã lên khoảng 1,36 triệu tấn, trong đó Việt Nam chiếm tới 85% thị phần.
Sự gia tăng nhanh của gạo nhập khẩu kéo theo hàng loạt hệ lụy: thị phần nội địa co hẹp, tỷ lệ tự cung tự cấp giảm, tồn kho tăng trong khi chi phí sản xuất leo thang. Khoảng cách giữa giá lúa tại ruộng và giá bán lẻ ngày càng nới rộng, khiến nông dân chịu thiệt kép.
Tuy nhiên, chính sách của Manila đang đứng trước bài toán hai chiều. Một mặt, chính phủ cần hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước; mặt khác, vẫn phải tăng nhập để ổn định nguồn cung và kiểm soát giá trong bối cảnh nguy cơ thiếu hụt do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là phân bón chịu tác động từ căng thẳng Trung Đông.
Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel cho biết nước này có thể tiếp tục nhập khẩu từ Việt Nam, Myanmar, Campuchia, Ấn Độ và Pakistan. Song song, gói hỗ trợ 10 tỷ peso đã được triển khai, cùng các phương án như điều chỉnh thuế và áp trần giá 50 peso/kg.