Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung đi ngang. Trong bối cảnh, Bộ Nông nghiệp Mỹ tăng nhẹ dự báo sản lượng niên vụ 2025 - 2026 thêm 0,1 triệu tấn, trong khi tiêu thụ và thương mại cùng giảm khoảng 0,4 triệu tấn.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 22/4/2026: Giá lúa gạo đi ngang, dư cung toàn cầu gây áp lực |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu ổn định so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 dao động trong khoảng 8.100 – 8.200 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 hiện ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo CL 555 dao động từ 8.150 – 8.250 đồng/kg; gạo OM 18 hiện ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 22/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục bình ổn. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 22/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám hiện giao dịch ở mức 6.600 – 6.700 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 22/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không đổi so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.200; Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 22/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn duy trì ổn định ở mức 490 - 500 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 465 - 469 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm có giá 376 - 380 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm đạt 395 - 399 USD/tấn, mức cao nhất trong khu vực. Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng đi ngang trpng khoản 356 - 360 USD/tấn. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ dao động ở mức 342 - 346 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm ở mức 344 - 348 USD/tấn.
Báo cáo tháng 4 của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy bức tranh thị trường gạo toàn cầu đang nghiêng rõ về phía dư cung, trong bối cảnh sản lượng tăng nhẹ nhưng nhu cầu có dấu hiệu chững lại.
Cụ thể, sản lượng gạo niên vụ 2025 - 2026 được dự báo đạt 541,4 triệu tấn (gạo xay xát), tăng 0,1 triệu tấn so với ước tính trước đó. Động lực chính đến từ Thái Lan khi điều kiện thời tiết thuận lợi giúp mở rộng diện tích gieo trồng, bù đắp phần sụt giảm tại Philippines và Đài Loan. Trong khi đó, hai “trụ cột” là Ấn Độ và Trung Quốc giữ nguyên sản lượng lần lượt 152 triệu tấn và 146 triệu tấn, tiếp tục chi phối nguồn cung toàn cầu.
Đáng chú ý, tổng cung gạo toàn cầu được nâng lên 732,9 triệu tấn, tăng 0,4 triệu tấn so với dự báo tháng trước, nhờ sản lượng nhích lên cùng với lượng tồn kho đầu kỳ dồi dào. Ngược lại, tiêu thụ toàn cầu lại bị điều chỉnh giảm 0,4 triệu tấn, xuống còn 540,6 triệu tấn, chủ yếu do nhu cầu suy yếu tại một số thị trường như Nhật Bản, Iraq và Trung Đông.
Diễn biến “cung tăng – cầu giảm” đã đẩy tồn kho cuối kỳ lên 192,3 triệu tấn, tăng thêm 0,8 triệu tấn. Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục nắm giữ tới 80% lượng dự trữ toàn cầu, phản ánh vai trò điều tiết thị trường thông qua chính sách tích trữ.
Ở góc độ thương mại, xuất khẩu gạo toàn cầu năm 2026 vẫn được duy trì ở mức cao kỷ lục 62,1 triệu tấn, nhưng đã giảm nhẹ so với dự báo trước do cạnh tranh giá ngày càng gay gắt, đặc biệt từ các quốc gia có chi phí thấp. Đồng thời, nhập khẩu toàn cầu cũng điều chỉnh giảm xuống 59,9 triệu tấn, cho thấy nhu cầu chưa thực sự bứt phá.