Chủ nhật 15/02/2026 14:45
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự thảo “Made in VietNam”- Công cụ đấu tranh phòng chống gian lận thương mại

12/10/2020 00:00
Với Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc “gian lận xuất xứ”, tránh được rủi ro kiện tụng

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh

Làm rõ hơn sự cần thiết phải ban hành Thông tư, sau đó là về nội dung của Thông tư và về các tác động có thể của Thông tư đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cùng đại diện các Cục, Vụ trực thuộc Bộ trong buổi trao đổi với báo chí để giải thích và làm rõ hơn nội dung của Dự thảo Thông tư.

Dưới đây là nội dung trao đổi giữa đại diện Bộ Công Thương và các phóng viên, nhà báo về Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam:

Vì sao tới bây giờ Bộ Công Thương mới đưa ra quy định về cách xác định thế nào là hàng sản xuất tại Việt Nam?

Trên thực tế, theo đúng chức năng và phạm vi quản lý nhà nước, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản quy định như thế nào thì một sản phẩm/hàng hóa được coi là sản phẩm/hàng hóa của Việt Nam, hay nói cách khác là có xuất xứ Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định này chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu, giúp hàng hóa của ta được hưởng ưu đãi thuế khi đi vào các thị trường ngoài hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương.

Với hàng hóa sản xuất và sau đó lưu thông trong nước, việc ghi nước xuất xứ được thực hiện theo Nghị định số 43/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Đây là lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải của Bộ Công Thương.

Những quy định chính trong dự thảo Thông tư là gì?

Dự thảo Thông tư bao gồm một số nội dung chính như sau:

- Các điều khoản chung về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và giải thích các thuật ngữ sử dụng trong Thông tư;

- Các trường hợp được phép và không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam, cách thức và ngôn ngữ thể hiện;

- Các trường hợp, tiêu chí để hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam;

- Các quy định khác liên quan đến việc xác định hàng hóa của Việt Nam (gia công đơn giản, bao bì phụ kiện, tỷ lệ linh hoạt, yếu tố gián tiếp);

- Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa và tổ chức thực hiện.

Trường hợp nào thì hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam?

Hàng hóa được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trong 2 trường hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định tại Điều 8 Thông tư.

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định tại Điều 9 của Thông tư.

Tại sao trong ASEAN hàng hóa phải đạt hàm lượng giá trị gia tăng là 40% mới được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ mà tại Thông tư này, chỉ cần hàm lượng 30% đã được coi là hàng hóa Việt Nam?

Trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, hàm lượng giá trị gia tăng được gọi "hàm lượng giá trị khu vực" (RVC). Tên gọi này đã thể hiện tính chất "khu vực" của quy tắc xuất xứ, tức là cho phép cộng gộp xuất xứ của các nước thành viên.

Ví dụ, với RVC 40% trong ASEAN thì 1 sản phẩm có 20% giá trị của Thái Lan, 10% của Philippines, 5% của Lào và 5% của Việt Nam sẽ được coi là đạt tiêu chí xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D. Thông tư này quy định chặt hơn. Cụ thể, tỷ lệ giá trị gia tăng 30% nêu tại Thông tư là chỉ tính riêng giá trị của Việt Nam.

Với quy định như tại dự thảo Thông tư, nhiều sản phẩm có thể đáp ứng xuất xứ ASEAN và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D nhưng chưa chắc đã đủ điều kiện để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, có phải cứ đạt hàm lượng giá trị gia tăng trên 30% là được coi là hàng hóa của Việt Nam?

Không nhất thiết. Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy chỉ được coi là hàng Việt Nam khi khâu sản xuất, chế biến cuối cùng diễn ra tại Việt Nam và khâu đó phải làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa, không phải là gia công, chế biến đơn giản như quy định tại Điều 10 của dự thảo Thông tư.

Tại phụ lục các danh mục hàng hóa kèm theo dự thảo Thông tư, Bộ Công Thương liệt kê các mặt hàng, trong đó hầu hết phải đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa 30% (một số ít sản phẩm 40%). Như vậy ngoài việc phải đảm bảo công đoạn cuối cùng không phải là công đoạn đơn giản, thì đây là tỷ lệ tối thiểu giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm nếu muốn được công nhận, dán mác hàng sản xuất tại Việt Nam?

Đối với một mặt hàng cụ thể, nếu tiêu chí xác định "hàng hóa của Việt Nam" là VAC 30% thì 30% là ngưỡng thấp nhất mà VAC của hàng hóa đó phải đạt được để được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Thông tư có đặt ra thủ tục hành chính nào buộc doanh nghiệp phải tuân thủ hay không?

Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà doanh nghiệp phải tuân thủ.

Thực hiện quy định của Thông tư có làm doanh nghiệp phát sinh thêm chi phí gì không?

Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa đã từ lâu là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định 43/2017/NĐ-CP. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Với Thông tư này, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Doanh nghiệp lo ngại về việc tự xác định và ghi nhãn "Sản xuất tại Việt Nam" không biết có đảm bảo chính xác không. Bộ Công Thương có tính đến khả năng Nhà nước có cơ quan đứng ra đánh giá và cấp giấy công nhận để họ yên tâm?

Ban soạn thảo chưa bao giờ tính đến khả năng này bởi cơ chế "đánh giá - công nhận" sẽ thực sự là gánh nặng cho cả doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý. Thông tư này, nếu được ban hành, sẽ do doanh nghiệp tự giác thực hiện. Nhà nước chỉ sử dụng Thông tư để phân xử đúng - sai khi xuất hiện tình huống đòi hỏi phải có sự phân xử đúng - sai, thí dụ như vụ Khaisilk trước đây.

Các sản phẩm từ trước tới nay vẫn được dán nhãn “Made in Viet Nam” hay sử dụng danh xưng "hàng Việt Nam" sẽ được ứng xử ra sao?

Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, việc thể hiện nội dung hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa phải tuân thủ các quy định của Thông tư, không có ngoại lệ.

Dự thảo Thông tư mới đưa ra các tiêu chí xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam hay sản xuất tại Việt Nam. Tại sao không đề cập đến các khái niệm như "Lắp ráp tại Việt Nam", hay "Sản xuất bởi [công ty nào đó]", hay "Thiết kế tại Việt Nam", hay "Thiết kế bởi [công ty nào đó]"? Một sản phẩm không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa Việt Nam sẽ ghi xuất xứ của nước nào nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau?

Ban soạn thảo đã dự thảo 1 điều khoản đề cập đến các khái niệm này để giúp doanh nghiệp có thêm các hình thức thể hiện trong trường hợp hàng hóa không đáp ứng được các tiêu chí để được coi là hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, do Điều 15 của Nghị định 43/2017 không cho phép doanh nghiệp được sử dụng các cụm từ này, Thông tư lại là văn bản dưới cấp Nghị định nên Ban soạn thảo đã phải bỏ điều khoản này ra. Cho tới nay, chúng tôi cũng chưa rõ Bộ Tư pháp có chấp nhận Điều 4 của dự thảo Thông tư hay không bởi Điều này đưa ra các quy định rộng hơn so với Điều 15 của Nghị định 43/2017.

Vấn đề hình thức văn bản là một trong những vấn đề gây tranh luận trong quá trình trao đổi về sự cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật giúp xác định như thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Ban soạn thảo nhận thấy nên ban hành ở cấp Nghị định nhưng một số cơ quan khác lại không cho là như vậy. Họ không sai bởi Nghị định chỉ dùng để hướng dẫn luật trong khi chúng ta lại chưa có luật về thế nào là hàng hóa của Việt Nam. Nếu ban hành Nghị định thì sẽ là một Nghị định "không đầu", điều không được luật pháp hiện hành cho phép.

Xuất phát từ đây, nếu doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào từ nhiều nước khác nhau, sản phẩm cuối cùng lại không đủ điều kiện để thể hiện là hàng hóa của Việt Nam thì doanh nghiệp sẽ thể hiện xuất xứ theo quy định của Nghị định 43/2017, tức là tự xác định và tự chịu trách nhiệm, miễn là đừng ghi xuất xứ Việt Nam.

Các trường hợp vi phạm quy định của Thông tư sẽ áp dụng chế tài như thế nào?

Theo quy định tại Dự thảo, Tổng cục Quản lý thị trường là đơn vị chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Công Thương và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm trong quá trình thực thi Thông tư này. Trường hợp phát hiện vi phạm, Tổng cục Quản lý thị trường và các cơ quan có thẩm quyền khác sẽ tùy theo mức độ vi phạm để đưa ra chế tài xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Công Thương sẽ làm gì để doanh nghiệp, người dân cũng như các cơ quan quản lý liên quan hiểu được mục tiêu của Bộ Công Thương cũng như các quy định của Thông tư này?

Việc đăng tải Dự thảo Thông tư là bước đầu tiên. Sau đó Bộ Công Thương sẽ tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu dự thảo và xin ý kiến các hiệp hội, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan về các quy định tại dự thảo.

Bộ Công Thương cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông để giải thích, làm rõ về mục tiêu ban hành Thông tư cũng như những nội dung mang tính kỹ thuật để doanh nghiệp, người dân có thể hiểu và góp ý được sát thực nhất.

Thu Giang – Thảo Trang (lược ghi)

Tin bài khác
Trung tâm Tài chính Quốc tế - Cú "hích" đối với nền kinh tế Việt Nam

Trung tâm Tài chính Quốc tế - Cú "hích" đối với nền kinh tế Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình khẳng định, trong bối cảnh mới, điều kiện mới, kỷ nguyên mới, Trung tâm tài chính quốc tế được coi như là một giải pháp hiệu quả, một cú "hích" đối với nền kinh tế, là đòn bẩy góp phần tái cơ cấu nền kinh tế, giúp Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới kinh tế xanh, kinh tế số và tuần hoàn…
Lộ diện loạt thành viên sáng lập, nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM

Lộ diện loạt thành viên sáng lập, nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM

Sáng 11/2, TP. Hồ Chí Minh chính thức ra mắt Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), đồng thời công bố danh sách thành viên sáng lập và nhà đầu tư chiến lược.
Chính phủ bổ sung gần 197 tỷ đồng cho Phú Thọ mở rộng đường nối cầu Phong Châu

Chính phủ bổ sung gần 197 tỷ đồng cho Phú Thọ mở rộng đường nối cầu Phong Châu

Chính phủ điều chuyển gần 197 tỷ đồng từ dự phòng ngân sách trung ương để Phú Thọ triển khai dự án mở rộng tuyến đường kết nối cầu Phong Châu với đường liên vùng, thúc đẩy hạ tầng khu vực.
Lâm Đồng: Hợp tác chiến lược với Tập đoàn Xây dựng Tô Thương (Trung Quốc)

Lâm Đồng: Hợp tác chiến lược với Tập đoàn Xây dựng Tô Thương (Trung Quốc)

Ngay những ngày đầu năm 2026, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có buổi làm việc chiến lược với Tập đoàn Xây dựng Tô Thương (Trung Quốc). Cuộc gặp không chỉ mở ra cơ hội hợp tác cho tuyến cao tốc huyết mạch Gia Nghĩa – Bảo Lộc – Phan Thiết mà còn khẳng định khát vọng "thay da đổi thịt" hạ tầng của tỉnh vùng cao.
Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2030, tầm nhìn 2050

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng ngành thép phát triển theo hướng công nghệ cao, xanh, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu giải pháp huy động ngoại tệ, vàng miếng trong dân

Giao Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu giải pháp huy động ngoại tệ, vàng miếng trong dân

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thu hút nguồn ngoại tệ và vàng miếng trong dân, đồng thời hoàn thiện hồ sơ báo cáo về việc thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia, nhằm tăng hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô.
Khánh Hòa – Dự kiến đón 33 triệu lượt khách, trở thành điểm đến hấp dẫn của Đông Nam Á vào năm 2030

Khánh Hòa – Dự kiến đón 33 triệu lượt khách, trở thành điểm đến hấp dẫn của Đông Nam Á vào năm 2030

Với nền tảng mũi nhọn phát triển kinh tế biển, Khánh Hòa sẽ biến nơi đây thành trung tâm du lịch mang tầm vóc toàn cầu, thành nơi giải trí đẳng cấp thế giới hòa quyện với thiên nhiên nguyên sơ cùng với các hoạt động phiêu lưu sinh thái mạo hiểm. Kết hợp với nền Văn hóa bản địa tạo nên nét văn hóa đa sắc.
Vốn FDI thực hiện tháng 1/2026 cao nhất trong 5 năm trở lại đây

Vốn FDI thực hiện tháng 1/2026 cao nhất trong 5 năm trở lại đây

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/2, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện tại Việt Nam trong tháng 1/2026 ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Diễn biến lạm phát tháng 01/2026: Lạm phát cơ bản duy trì ở mức cao dù CPI tăng nhẹ

Diễn biến lạm phát tháng 01/2026: Lạm phát cơ bản duy trì ở mức cao dù CPI tăng nhẹ

Sự chênh lệch giữa CPI chung và lạm phát cơ bản tiếp tục cho thấy những yếu tố nền tảng của lạm phát vẫn đang chịu sức ép.
Gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tháng 1

Gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tháng 1

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 1/2026, cả nước có gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cho thấy tín hiệu tích cực của môi trường kinh doanh ngay từ đầu năm.
Hàng chục tỷ USD tạo “khối kinh tế liền mạch” Campuchia – Lào

Hàng chục tỷ USD tạo “khối kinh tế liền mạch” Campuchia – Lào

Dòng vốn hàng chục tỷ USD từ Việt Nam đang “bắc cầu” sang Campuchia, Lào, hình thành chuỗi sản xuất – tiêu thụ liền mạch từ nông nghiệp, viễn thông đến hạ tầng, đưa Đông Dương thành không gian kinh tế thống nhất.
Quảng Ninh thông qua 9 nghị quyết quan trọng, tạo động lực bứt phá tăng trưởng năm 2026

Quảng Ninh thông qua 9 nghị quyết quan trọng, tạo động lực bứt phá tăng trưởng năm 2026

Ngày 05/02/2026, Kỳ họp thứ 35 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XIV, nhiệm kỳ 2021–2026 đã diễn ra và hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình theo luật định. Kỳ họp không chỉ quyết định nhiều vấn đề cấp thiết trước mắt mà còn khép lại một nhiệm kỳ đầy dấu ấn đổi mới, bản lĩnh và khát vọng phát triển mạnh mẽ của tỉnh.
Lâm Đồng đẩy mạnh tháo gỡ vướng mắc 359 dự án ngoài ngân sách

Lâm Đồng đẩy mạnh tháo gỡ vướng mắc 359 dự án ngoài ngân sách

Lâm Đồng đang triển khai một chiến dịch xử lý vướng mắc đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách với quy mô chưa từng có, coi đây là chìa khóa để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư trong giai đoạn 2026 trở đi.
Mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội có thể hoàn thành sớm hai năm

Mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội có thể hoàn thành sớm hai năm

Nhờ tốc độ triển khai tăng tốc và chính sách đồng bộ từ trung ương đến địa phương, mục tiêu xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030 có thể về đích sớm hai năm.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam mở rộng ngành bô-xít gần 60.000 tỷ đồng tại Lâm Đồng

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam mở rộng ngành bô-xít gần 60.000 tỷ đồng tại Lâm Đồng

UBND tỉnh Lâm Đồng đã chính thức trao Quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư cho hai dự án mở rộng, nâng công suất các nhà máy alumin trên địa bàn tỉnh với tổng mức đầu tư xấp xỉ 59.855 tỷ đồng.