Thứ ba 20/10/2026 02:41
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dự thảo Bộ luật Lao động: Đừng quên người lao động và doanh nghiệp chung một thuyền

12/10/2020 00:00
Những điều chỉnh trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi mới đây như giảm giờ làm việc tiêu chuẩn, giảm giờ làm thêm và tính tiền làm thêm lũy tiến... đang dấy lên những lo ngại trong giới doanh nghiệp về việc tăng chi phí nhân công và sẽ làm cho Việt
Dự thảo Bộ luật Lao động: Đừng quên người lao động và doanh nghiệp chung một thuyền
Doanh nghiệp lo lắng chi phí nhân sự tăng cao nếu giảm giờ làm tiêu chuẩn, giảm giờ làm thêm và tính thêm lũy tiến theo giờ. Trong ảnh: Nhân viên quầy rau tại một siêu thị. Ảnh minh họa Minh Tâm.

Khó với nền kinh tế dựa vào sức lao động

Tại hội thảo lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi diễn ra cuối tuần trước tại TPHCM, bà Phạm Thị Hồng Yến, Giám đốc nhân sự của Intel Việt Nam, cho biết trong thực tế vận hành, doanh nghiệp cần một lao động làm việc ít nhất 60 giờ/tuần để đảm bảo công việc, bù đắp những người nghỉ phép (12 ngày/người/năm); nghỉ lễ (10 ngày/người/năm); nghỉ ốm (bình quân 10 ngày/người/năm)...

Nếu giờ làm tiêu chuẩn giảm từ 48 giờ/tuần xuống 44 giờ như dự thảo luật thì khoảng cách giữa quy định và thực tế càng xa, đẩy chi phí tăng lên vì phải tuyển thêm nhân sự để bổ sung. Vấn đề là hiện nay, một nhân viên mới vào làm việc phải mất tới sáu tháng đào tạo. “Giá thành không cạnh tranh thì ai đầu tư?”, bà Yến đặt câu hỏi.

Trao đổi riêng với phóng viên TBKTSG bên lề hội thảo, bà Yến chia sẻ, nếu tính trong nội bộ tập đoàn thì chi phí chung tại Việt Nam hiện gần bằng với Malaysia (trước đây thấp hơn hẳn nên có lợi thế cạnh tranh tốt hơn) và cũng chỉ còn ngưỡng “cực nhỏ” là bằng các nước khác. “Nếu giảm bốn giờ nữa thì không còn khoảng trống nào để bù đắp”, bà Yến khẳng định.

Ông Diệp Thành Kiệt, Hội Da giày TPHCM, nhận xét rằng quy định như dự thảo luật thì số giờ làm thêm, giờ làm tiêu chuẩn của Việt Nam... thấp hơn các nước trong khu vực. Theo ông, khi làm gì đó liên quan đến quan hệ nhạy cảm giữa người lao động và doanh nghiệp thì nên xem xét các nước xung quanh làm thế nào để đảm bảo cạnh tranh quốc gia. Các nhà đầu tư trực tiếp cũng như người mua hàng có thể chịu đựng một hai năm nhưng họ sẽ tính toán lại, thậm chí “chia tay” để lựa chọn những nước có chi phí nhân công rẻ hơn, thuế thấp hơn. Lúc đó, chính người lao động chịu thiệt.

Tiến sĩ Hồ Xuân Dũng, chuyên gia về lao động, nhấn mạnh nội dung ở bản dự thảo mới nhất đã thay đổi nhiều điểm so với bản trình của Chính phủ và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động doanh nghiệp và cũng chưa hẳn tốt cho người lao động. Ông Dũng phân tích, khi chuyển từ 48 giờ sang 44 giờ mà năng suất lao động không tăng thì chi phí nhân công tăng. Với một nền kinh tế phần lớn giá trị gia tăng dựa trên sức lao động thì hệ quả là sức cạnh tranh giảm.

Vấn đề là dây chuyền sản xuất thiết kế theo 48 giờ làm việc

Theo ông Dũng, với doanh nghiệp, chi phí tăng không đơn thuần ở câu chuyện 48 giờ, 44 giờ mà còn dắt díu nhiều vấn đề. Doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất theo 48 giờ, nếu giảm giờ làm thì sẽ vẫn phải giữ sản xuất như vậy. Bốn tiếng giảm sẽ trở thành giờ làm thêm.

Trong khi đó, dự thảo luật đề xuất thêm phương án trả lương làm thêm lũy tiến theo giờ (hai giờ đầu tiên, giờ thứ ba, giờ thứ tư của các ngày thường, ngày nghỉ, ngày lễ). Nếu vậy, số tiền lương doanh nghiệp phải trả cho việc làm thêm rất cao, như làm thêm vào ngày lễ đến giờ thứ 4 phải trả tới 360% so với làm việc trong giờ vào ngày bình thường.

Ông Kiệt thì cho rằng, mục đích của việc sửa đổi luật là mong tốt hơn cho người lao động. Nhưng, sửa đến độ doanh nghiệp không thể nuôi nổi, các ông chủ ngừng kinh doanh, bỏ tiền vào ngân hàng cho an toàn thì lúc đó, chính người lao động lãnh đủ.

Lấy ví dụ câu chuyện giảm giờ làm tiêu chuẩn xuống 44 giờ. Nếu áp dụng theo đề xuất này thì người lao động là người chịu thiệt thòi ngay. Bởi lẽ, với những người nhận lương theo sản phẩm thì số giờ làm này chưa chắc đảm bảo thu nhập như cũ, như mong muốn của người đề xuất. Còn nếu tính lương theo giờ làm thì chắc chắn thu nhập sẽ giảm.

“Lâu nay, người lao động đi làm, trông chờ vào thưởng Tết. Đây là khoản không bắt buộc. Nếu doanh nghiệp không trả thì ai chịu thiệt. Khi đề xuất cần cân nhắc để doanh nghiệp còn có điều kiện để thể hiện tính nhân văn”, ông Kiệt nói.

Với chuyện trả lương làm thêm lũy tiến, cách tính đang áp dụng hiện nay là ngày thường, ngày nghỉ và ngày lễ mức lương lần lượt là 150% - 200% và 300%. Điều này vốn đã được cân nhắc khi thông qua Bộ luật Lao động năm 2012. Nay, trong dự thảo lại đề xuất chẻ ra theo giờ, sẽ làm cho việc tính toán trở nên rất phức tạp.

Bà Trần Thị Hạ Bình, đại diện một doanh nghiệp ở Bình Dương, phân tích phương án tính tiền làm thêm lũy tiến theo giờ có thể mở ra cơ hội tăng thu nhập cho người lao động. Nhưng, khi chi phí lao động tăng thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc kỹ hơn về những khoản khác như du lịch, tiền thưởng.

Ông Huỳnh Quang Thanh, đại diện Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (Bifa), đánh giá luật đang xây dựng theo hướng một ngày một khó hơn cho doanh nghiệp. Những ấn định về giờ làm thêm, giờ làm tiêu chuẩn là tự làm khó doanh nghiệp trong nước. Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, nếu đối tác nước ngoài kiểm tra và thấy doanh nghiệp không tuân thủ theo các quy định hiện hành thì sẽ cắt hợp đồng.

Nên hoãn thông qua?

Ông Thanh cho rằng nếu những đề xuất còn gây tranh cãi quá thì nên hoãn việc thông qua luật để nghiên cứu thêm. “Mắc mớ gì bắt làm những gì không thể thực hiện được”, ông Thanh nói thẳng thắn.

Ông Mai Đức Thiện, Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cho biết các dự thảo trước đã được công khai trước khi trình Chính phủ, nhưng khi Chính phủ trình và được thảo luận tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phát sinh nhiều nội dung mới, như giảm giờ làm tiêu chuẩn từ 48 giờ xuống 44 giờ/tuần hay trả lương lũy tiến theo giờ.

Đến nay dự thảo đang ở “sân” của Quốc hội nên ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hay doanh nghiệp cũng chỉ là một phía. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng có ý kiến là nếu còn quá nhiều quan điểm khác nhau thì cần lắng nghe thêm và không nên thông qua vào kỳ họp tháng 10 tới.

Minh Tâm

Tin bài khác
Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Khu kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi: Cơ hội bứt phá từ cơ chế đặc thù

Bộ Chính trị đồng ý chủ trương cho Khu kinh tế Dung Quất áp dụng các cơ chế, chính sách đang được áp dụng đối với khu thương mại tự do tại Hải Phòng, Đà Nẵng và các cơ chế, chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định được nêu trong chủ trương.
Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Đà Nẵng đầu tư 3.525 tỷ đồng phát triển khu sản xuất và logistics

Dự án hạ tầng 3.525 tỷ đồng tại vị trí số 7 bổ sung một mắt xích vào Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Tiềm năng thu hút đầu tư sẽ phụ thuộc tiến độ hạ tầng, kết nối logistics và khả năng lấp đầy bằng các dự án có giá trị gia tăng cao.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện Luật Đấu giá tài sản để kiểm soát giá nhà ở xã hội

Thảo luận về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) sáng 19/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu đồng bộ quy định về đấu giá với pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và đấu thầu. Việc hoàn thiện luật không chỉ nhằm chuẩn hóa trình tự, thủ tục đấu giá mà còn góp phần quản lý, điều tiết giá nhà ở xã hội và nhà cho thuê, tạo điều kiện để người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở.
Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng kiên định kiểm soát lạm phát để bảo vệ thành quả tăng trưởng

Thủ tướng Chính Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải đi cùng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đây là nền tảng để bảo đảm thành quả phát triển không bị bào mòn bởi giá cả tăng cao.
Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Việt Nam - Thụy Sĩ thúc đẩy hợp tác công nghệ sau lễ ký VEFTA

Sau lễ ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA), hợp tác Việt Nam – Thụy Sĩ đứng trước cơ hội mở rộng sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao. Trọng tâm tiếp theo là kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo để chuyển định hướng hợp tác thành dự án, công nghệ và năng lực sản xuất cụ thể.
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú: Chỉ nên tăng giá điện khi phát sinh chi phí

Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát lạm phát dưới 4,5%, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đề nghị rà soát, điều hành giá các mặt hàng thiết yếu, trong đó giá điện cần được nghiên cứu theo hướng giảm, chỉ xem xét tăng khi chi phí đầu vào phát sinh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm soát giá cả, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp

Tại phiên thảo luận tổ ngày 18/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu chủ động kiểm soát giá các mặt hàng thiết yếu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời nghiên cứu giải pháp giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việt Nam và Iceland tăng tốc triển khai FTA với EFTA

Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EFTA mở thêm dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Iceland, nhất là trong thương mại, đầu tư và năng lượng. Hai nước nhất trí tăng cường phối hợp, thúc đẩy các thủ tục cần thiết để sớm đưa Hiệp định vào thực tiễn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai thác hiệu quả những cơ hội mới.
Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Hiệp định Việt Nam - EFTA mở thêm dư địa xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt

Sự kiện Việt Nam ký Hiệp định Thương mại tự do với Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (EFTA) là dấu mốc quan trọng, mở thêm cánh cửa tiếp cận các thị trường có sức mua cao, đồng thời tạo cơ hội thu hút vốn, công nghệ và mở rộng cơ hội việc làm. Hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc vào khả năng tận dụng ưu đãi và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Xuất nhập khẩu năm nay hướng tới mốc 1.110 tỷ USD

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Kết quả này cùng đà tăng trưởng kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài cho thấy quy mô thương mại tiếp tục mở rộng, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng giá trị hàng hóa và củng cố sức chống chịu của doanh nghiệp.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%

Trước áp lực chi phí vốn còn cao, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẩn trương triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; đồng thời tăng cường kiểm soát, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Vì sao doanh nghiệp đầu tàu ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá?

Dù có lợi thế về nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tàu Đồng bằng sông Cửu Long vẫn khó bứt phá vì vướng vốn, lãi suất, chính sách và hạn chế công nghệ. Tăng cường liên kết vùng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ điểm nghẽn thực thi là những yêu cầu cấp thiết.
Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Khơi thông nguồn vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong năm 2027 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và sử dụng nguồn lực của nền kinh tế. Kết luận số 106-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh việc phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Đây là những định hướng quan trọng nhằm chuyển mục tiêu tăng trưởng thành kết quả thực chất.
Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Điều hành giá cuối năm 2026: Chủ động nguồn cung, kiểm soát lạm phát

Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường quản lý, điều hành giá, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, phấn đấu kiểm soát CPI bình quân năm 2026 tăng khoảng 4,5%.
TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

TP. Hồ Chí Minh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số

GRDP tăng 9,06% trong 9 tháng đầu năm 2026, thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI và giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, với yêu cầu GRDP quý IV tăng 13,23%, thành phố cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, tháo gỡ vướng mắc dự án và thúc đẩy đầu tư công lẫn tư nhân.