Chuyển dịch theo hướng kinh tế tuần hoàn là tất yếu

DNHN - Để thúc đẩy phát triển KTTH ở Việt Nam, TS. Lê Hải Đường - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp cho rằng, bên cạnh việc thực hiện đồng bộ các giải pháp, cần tiếp tục nhận diện những vấn đề đặt ra trong quy định pháp luật, từ đó tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực này là vô cùng cần thiết.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

TS. Lại Văn Mạnh, Trưởng Ban Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, phát triển KTTH là giải pháp tất yếu để nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm sản xuất và tiêu dùng bền vững; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo; là hạt nhân để thực hiện chủ trương phân bổ, quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững trong bối cảnh của thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Để thực hiện được KTTH đòi hỏi một tiến trình dài hạn với sự quyết tâm và nỗ lực của toàn hệ thống để từng bước hình thành và vận hành các hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nền kinh tế; đổi mới, sáng tạo trên cơ sở áp dụng những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của công nghệ để thiết lập một chuỗi giá trị gia tăng tuần hoàn với tầm nhìn chia sẻ.

“Đối với một quốc gia có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, việc chuyển đổi sang KTTH có thuận lợi lớn là đã tạo dựng được nền tảng về định hướng, pháp luật; sự hưởng ứng tích cực của các Bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện KTTH. Tuy nhiên, trước một vấn đề mới trong bối cảnh hạn chế hạ tầng, khoa học và công nghệ, nhận thức,… đòi hỏi Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách, pháp luật để đưa chủ trương này vào thực tiễn”, TS.Lại Văn Mạnh chia sẻ.

Lưu ý vấn đề hiệu lực và hiệu quả của các công cụ chính sách là bài toán khó trong thời gian tới, TS. Lại Văn Mạnh kiến nghị, để thực hiện được các đề xuất chính sách, trong ngắn hạn Việt Nam cần tập trung đưa các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, đặc biệt là cần phải xây dựng kế hoạch hành động quốc gia, bộ tiêu chí chung ở cấp quốc gia, tiêu chí đối với các ngành, lĩnh vực và đối với từng loại hình dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các chính sách đặc thù để khuyến khích thực hiện KTTH; đưa những công cụ chính sách có vai trò thúc đẩy áp dụng KTTH vào thực tiễn. Bên cạnh đó, cần xem xét sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật khác như thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, bảo vệ người tiêu dùng, pháp luật về đầu tư công để thúc đẩy áp dụng KTTH vào thực tiễn.

Phân tích chính sách phát triển KTTH về năng lượng tái tạo trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, PGS.TS Phan Thế Công, Trưởng Bộ môn Kinh tế học, trường Đại học Thương mại cho biết, Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề xói mòn đất, sự gia tăng khí thải và rác thải trong nông nghiệp, trong khi nguồn nguyên liệu thô, nguyên liệu hoá thạch ngày càng cạn kiệt. Do đó, việc lựa chọn nền kinh tế tuần hoàn (KTTH) đối với Việt Nam là yêu cầu tất yếu nhằm khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng truyền thống. Phát triển mô hình KTTH bằng cách sử dụng năng lượng tái tạo trong hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, giảm ô nhiễm môi trường và tránh lệ thuộc vào nền kinh tế bên ngoài, nhất là về nguyên liệu, nhiên liệu.

TS.Phạm Thị Tố Oanh, Trưởng Ban chính sách và phát triển HTX, Liên minh HTX Việt Nam cho rằng, cơ sở pháp lý trong thực hiện KTTH còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa có những quy định cụ thể, phù hợp ngành và lĩnh vực trong triển khai, ứng dụng.

Theo TS.Phạm Thị Tố Oanh, quy định của Nhà nước chưa có tiêu chí cho các mô hình KTTH, các Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực nhưng các chế tài chưa đủ mạnh để ngăn chặn những hành vi tác động tới môi trường. Một số chính sách về bảo vệ môi trường đang thiếu các điều kiện để triển khai như: hỗ trợ thu gom và quản lý rác thải ở nông thôn, sử dụng khí sinh học, sản xuất sạch, quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng;…

Bên cạnh đó, các quy định về phí, thuế chưa sát với thực tiễn. Việc áp dụng mức thuế suất của Luật Thuế Tài nguyên (2009) ưu tiên cho mục tiêu điều tiết tài nguyên có giá trị cao thể hiện ở mức thuế suất áp dụng đối với khoáng sản không kim loại và dầu thô, mà chưa hướng đến việc hạn chế khai thác tài nguyên làm nguyên liệu hay bảo tồn thiên nhiên.

Từ phân tích thực trạng, TS.Phạm Thị Tố Oanh đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy KTTH, trong đó, nhấn mạnh cần xây dựng hành lang pháp lý và tiêu chuẩn hóa KTTH. “Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hình thành hành lang pháp lý minh bạch, ổn định, thuận lợi để thu hút doanh nghiệp, HTX, các tổ chức ngành nghề, người dân tham gia; tạo môi trường kinh doanh thông qua cơ chế, chính sách phát triển công nghệ sạch, tái sử dụng, tái chế chất thải, chất thải phải trở thành nguồn tài nguyên trong nền kinh tế ở cả khía cạnh sản xuất và tiêu dùng; có chính sách ưu tiên trong đầu tư công nghệ tái chế chất thải có giá trị cao. Bổ sung các chính sách, quy định cụ thể theo hướng quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất, nhà phân phối trong việc thu hồi, phân loại và tái chế hoặc chi trả chi phí xử lý các sản phẩm thải bỏ dựa trên số lượng sản phẩm bán ra thị trường; quản lý dự án theo vòng đời, thiết lập lộ trình xây dựng và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường tương đương với nhóm các nước tiên tiến trong khu vực,..”, TS.Phạm Thị Tố Oanh nhấn mạnh.

Trên cơ sở phân tích một số chính sách gần đây liên quan đến phát triển KTTH ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh rút ra một số bài học kinh nghiệm cho 3 nhóm lĩnh vực cần hoàn chỉnh khung pháp lý, bao gồm: (1) KTTH trong nông nghiệp; (2) Trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất; (3) Khu công nghiệp sinh thái và cộng sinh công nghiệp. Một số chủ đề khác liên quan đến lồng ghép KTTH trong phát triển năng lượng tái tạo, thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, sản xuất tiêu dùng bền vững, phát triển kinh tế địa phương … sẽ được nghiên cứu, đề xuất trong thời gian tới.

Khánh Anh

Tin liên quan