Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên. Việc sửa đổi này xuất phát từ những vướng mắc thực tế của các địa phương trong quá trình xây dựng và ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên thời gian qua.
![]() |
| Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên (Ảnh minh họa). |
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất liên quan đến quy định về chi phí được trừ của khoáng sản đưa vào chế biến. Theo Thông tư số 152/2015/TT-BTC, chi phí chế biến được trừ khi xác định giá tính thuế không bao gồm chi phí sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng. Quy định này vốn tương thích với Luật Khoáng sản 2010 (chia hoạt động khoáng sản thành 3 khâu: khai thác; sàng tuyển, phân loại; chế biến).
Tuy nhiên, theo Luật Khoáng sản 2024, hoạt động này đã được cô đọng thành 2 khâu là khai thác và chế biến, trong đó chi phí sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng được xếp vào khâu chế biến. Sự không đồng bộ này khiến quy định loại trừ chi phí tại Thông tư số 152/2015/TT-BTC không còn phù hợp với luật chuyên ngành. Do đó, Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ nội dung loại trừ chi phí sàng, tuyển, làm giàu hàm lượng để đảm bảo tính thống nhất.
Bên cạnh đó, quy định Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh phải ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên hằng năm cũng tạo ra khối lượng công việc hành chính không cần thiết cho địa phương, ngay cả khi bảng giá năm sau chỉ kế thừa nguyên vẹn năm trước.
Để tối giản thủ tục, dự thảo đề xuất cơ chế sửa đổi theo hướng: Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Bảng giá tính thuế tài nguyên, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức việc xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Bảng giá tính thuế tài nguyên và trình UBND cấp tỉnh ban hành.
Chuẩn hóa căn cứ xác định giá thuế và số hóa công khai
Dự thảo mới cũng quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm và thời hạn cập nhật dữ liệu. Theo đó, chậm nhất 30 ngày kể từ ngày UBND cấp tỉnh ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên hoặc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Bảng giá tính thuế tài nguyên, Sở Tài chính cung cấp thông tin và gửi văn bản về Bộ Tài chính (Cục Thuế) để cập nhật cơ sở dữ liệu giá tính thuế tài nguyên.
Về cấu trúc Bảng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh ban hành, dự thảo làm rõ hai cấu phần bắt buộc:
Định mức sử dụng tài nguyên: Làm căn cứ quy đổi từ sản phẩm tài nguyên hoặc sản phẩm công nghiệp ra sản lượng tài nguyên khai thác thực tế, được xác định dựa trên khai báo của doanh nghiệp nhưng phải phù hợp với báo cáo thăm dò, đánh giá chất lượng, hàm lượng của cơ quan chuyên môn.
Giá tính thuế tương ứng: Được xác định trên cơ sở tài liệu, hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp trên địa bàn về giá bán sản phẩm tài nguyên tại thị trường địa phương hoặc lân cận. Trong trường hợp tài nguyên phải qua chế biến thành sản phẩm công nghiệp mới bán ra, giá tính thuế được tính bằng giá bán sản phẩm công nghiệp trừ đi thuế xuất khẩu (nếu có) và chi phí chế biến công nghiệp.
Đáng chú ý, để phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, Bộ Tài chính đề xuất thay đổi phương thức tiếp cận thông tin của người nộp thuế. Hiện nay, phần lớn thủ tục hành chính thuế đều được thực hiện trực tuyến hoặc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, việc niêm yết bản giấy tại trụ sở Cơ quan Thuế không còn phát huy hiệu quả.
Vì vậy, tại dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi quy định: Cơ quan Thuế địa phương công khai Bảng giá tính thuế tài nguyên trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan mình (nếu có), tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động tra cứu và thực hiện nghĩa vụ thuế minh bạch.