Thứ sáu 14/08/2026 07:08
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi

12/10/2020 00:00
Nguyên nhân khiến xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh là do ảnh hưởng từ xung đột thương mại Mỹ - Trung.
Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
C huyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Trao đổi với Kinh tế & Đô thị, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc Việt Nam cần làm trong bối cảnh hiện tại là phải khẩn trương thay đổi cách nhìn nhận và tiếp cận thị trường Trung Quốc để xuất khẩu bền vững, giảm thiểu rủi ro.

Hệ lụy tất yếu của xung đột thương mại Mỹ - Trung

Trung Quốc vốn là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Tuy nhiên, từ đầu năm 2019, lượng nông sản xuất khẩu sang thị trường này đang sụt giảm mạnh. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, thưa ông?

- Có 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất, trong cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Trung Quốc giảm lượng xuất khẩu sang Mỹ do Mỹ áp thuế 300 tỷ USD lên hàng hóa của nước này. Với bối cảnh hiện tại đang dư thừa sản phẩm nông nghiệp, Trung Quốc không có nhu cầu nhập khẩu nông sản Việt Nam nhiều như trước đây, dẫn đến việc giảm lượng xuất khẩu nông sản của ta sang thị trường này.

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
 Kiểm tra hàng nông sản trước khi xuất khẩu sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai. Ảnh: Lam Thanh

Thứ hai, do tỷ giá của đồng Nhân dân tệ xuống thấp so với đồng USD, trong khi giá trị của đồng Việt Nam so với USD thì giữ ở mức ổn định. Đồng nghĩa với đồng Nhân dân tệ đang giảm giá trị so với đồng Việt Nam, điều này khiến hàng nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc đắt đỏ hơn dẫn đến giảm lượng xuất khẩu nông sản của nước ta sang thị trường này.

Từ tháng 6/2019, Trung Quốc đã chính thức thay đổi chính sách nhập khẩu đối với nông sản Việt Nam, đó là chuyển từ nhập khẩu tiểu ngạch sang nhập khẩu chính ngạch. Kèm theo đó, siết chặt biện pháp quản lý chất lượng, truy xuất ngồn gốc đối với nông sản Việt. Ông đánh giá như thế nào về mức độ ảnh hưởng của chính sách này đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam?

- Theo tôi tất cả các mặt hàng nông sản của nước ta đều chịu ảnh hưởng. Chính sách của Trung Quốc là đang siết chặt nhập khẩu các mặt hàng nông sản của ta và những biện pháp họ đưa ra mang tính kỹ thuật đó là những yêu cầu về vệ sinh ATTP, chất lượng… buộc hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng với những tiêu chí này.

Có nghĩa là Trung Quốc đang dùng rào cản về kỹ thuật để giảm lượng nhập khẩu nông sản từ Việt Nam; đồng thời, chuyển từ tiểu ngạch sang chính ngạch để họ dễ kiểm soát hơn. Việc làm này thể hiện rõ ràng mục đích Trung Quốc muốn giảm lượng nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc thay đổi chính sách nhập khẩu là một trong những động thái Trung Quốc muốn làm khó cho nông sản Việt Nam. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Tôi nghĩ động thái này xuất phát từ mục đích Trung Quốc muốn hàng nội địa của họ được sử dụng nhiều hơn bởi họ đang gặp vấn đề về xuất khẩu. Hay có thể nói là họ đang dư cung đối với nhiều mặt hàng nên bắt buộc phải dùng mức tiêu thụ nội địa để tiêu thụ sản lượng hàng hóa dư. Vì vậy, họ giới hạn đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam để thực hiện mục đích nêu trên là điều dễ hiểu.

Vấn đề đáng lưu tâm là việc Trung Quốc nâng yêu cầu về chất lượng, vệ sinh ATTP, truy xuất nguồn gốc… giúp cho họ nhập khẩu các mặt hàng chất lượng tốt hơn và đúng với thông lệ quốc tế. Việc Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ đối với hàng nông sản nhập khẩu từ Việt Nam mặc dù là biện pháp mang tính đối phó tình thế nhưng cũng mang lại lợi ích lâu dài cho quốc gia này.

Xem xét giảm giá VND

Theo ông, liệu các biện pháp giới hạn nhập khẩu hàng Việt Nam vào Trung Quốc có được nới lỏng trong thời gian tới?

- Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung càng ngày càng leo thang mặc dù trước truyền thông quốc tế cả hai bên đều đưa ra nhiều tín hiệu tích cực nhưng thực chất quan hệ đôi bên càng ngày càng đi vào bế tắc. Thực tế cho thấy, Trung Quốc đang gặp khó khăn trong vấn đề phát triển kinh tế, việc đối đầu với Mỹ là rất bất lợi với Trung Quốc nên điều họ có thể làm trong giai đoạn này là đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa trong nước và hạn chế nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Câu chuyện này không chỉ xảy ra trong năm nay mà sẽ kéo dài hết năm 2020.

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
 Hàng nông sản chờ xuất sang Trung Quốc tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Ảnh: Lam Thanh

Tuy nhiên, sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, nếu ông Donald Trump tái đắc cử thì tình hình có thể thay đổi. Hoặc nếu ông Donald Trump thất cử, đảng Dân chủ lên ngôi thì vấn đề hòa giải giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ dễ xảy ra hơn, từ đó, các biện pháp hạn chế xuất khẩu hàng Việt Nam của Trung Quốc có thể được nới lỏng.

Theo nhận định của ông thì diễn biến của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang ngày càng phức tạp và vượt quá dự báo của các cơ quan chức năng. Vậy, có giải pháp nào để ứng phó trước tình hình này?

- Nếu muốn tiếp tục duy trì xuất khẩu sang Trung Quốc thì hàng nông sản của chúng ta phải đáp ứng yêu cầu về vệ sinh y tế, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ… Bên cạnh đó, chúng ta phải tìm kiếm, khai thác các thị trường khác như: Đông Nam Á, châu Phi, châu Mỹ nhằm phân bổ rủi ro cũng như bù trừ việc mất thị phần tại Trung Quốc.

Đối với nông dân, DN Việt cần phải hiểu đối tác nước ngoài họ cần những gì để đáp ứng cho chuẩn. Về phía Chính phủ, nên nghiên cứu, xem xét để cho Đồng Việt Nam (VND) giảm giá trong biên độ phù hợp, nếu VND cứ giữ đúng giá như hiện tại thì gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng hóa Việt Nam bán sang Trung Quốc sẽ đắt đỏ hơn. Theo tôi, việc giảm giá VND ở mức độ cả năm khoảng 3% là phù hợp.

Thay đổi để thích ứng thị trường

Ông có khuyến nghị nào dành cho nông dân và DN Việt giúp họ vượt rào cản, tiếp tục duy trì xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc?

- Trước hết, các bộ, ngành liên quan đến xuất khẩu cần phải nắm rõ được tình hình hiện tại và yêu cầu của các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là Trung Quốc với những rào cản họ đang giăng ra. Để vượt qua được những rào cản này, cả người nông dân và DN cần phải nắm bắt để đáp ứng yêu cầu thị trường, đồng thời nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa cũng như xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Đối với nông sản xuất khẩu đều phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Hiện, hàng Việt Nam đã thâm nhập đươc một số thị trường trên thế giới, song còn rất nhiều thị trường đang ngăn chặn hàng nông sản của Việt Nam vì lý do chất lượng, vệ sinh ATTP… chưa đạt tiêu chuẩn nên bắt buộc nông dân, DN phải hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn này một cách toàn vẹn hơn.

Phải chăng, thách thức siết chặt chính sách nhập khẩu nông sản của Trung Quốc cũng là cơ hội để Việt Nam thay đổi tư duy và hành động trong xuất khẩu hàng hóa ra thế giới?

- Chính xác! Việt Nam là nước xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, chè rất lớn trên thế giới, song thương hiệu “Made in Vietnam” trên thị trường nông sản thế giới vẫn chưa phổ biến. Hay nói cách khác, xuất khẩu của Việt Nam tốt về số lượng nhưng chưa đạt yêu cầu về chất lượng. Do đó, chúng ra cần phải nâng cao chất lượng đối với hàng nông sản xuất khẩu, không những đáp ứng thị trường Trung Quốc mà còn đáp ứng các thị trường khác, đặc biệt là các thị trường mà nước ta ký hiệp định thương mại tự do là CPTPP và EVFTA.

Với những yêu cầu thương mại cấp cao hơn, chắc chắn chất lượng hàng hóa Việt Nam phải được thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thế giới.

Mặt khác, trong bối cảnh Trung Quốc buộc chúng ta phải nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu nông sản không chỉ đáp ứng được yêu cầu nhập khẩu của Trung Quốc mà còn giúp cho Việt Nam cải tiến được chất lượng hàng nông sản xuất khẩu ra thế giới, để thế giới biết nhiều hơn đến những sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam”.

Xin cảm ơn ông!

"Gia nhập sân chơi CPTPP, hàng hóa nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam sẽ ngày càng gia tăng, nhất là hàng giá rẻ từ Trung Quốc. Điều này buộc Việt Nam phải tăng cường tiêu thụ nội địa bằng các biện pháp nâng sức mua của người tiêu dùng.

Cùng với đó, nâng chất lượng của hàng nội địa nhằm nâng cao sức cạnh tranh đối với hàng nhập khẩu. Việc hàng hóa của Trung Quốc và khối các nước thuộc Hiệp định CPTPP tràn vào Việt Nam sẽ đẩy một số DN nội địa vào cảnh dần mất thị phần. Đây là rủi ro lớn đối với thị trường Việt Nam. Do đó, Chính phủ cần tính toán đến các DN nhập khẩu và luôn theo sát diễn biến thị trường thế giới để có kế hoạch ứng phó phù hợp." - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Ánh Ngọc (thực hiện)

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh dồn lực giải ngân đầu tư công, kích hoạt dòng vốn tư nhân

TP. Hồ Chí Minh đang đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, xác định đây không chỉ là nhiệm vụ về tiến độ ngân sách mà còn là giải pháp quan trọng để mở rộng không gian phát triển, tạo hạ tầng và mặt bằng, qua đó kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.
Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Luật mới kỳ vọng mở thêm dư địa cho doanh nghiệp số và đổi mới công nghệ

Điểm doanh nghiệp cần chú ý trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật nằm ở việc giảm thủ tục, tăng phân quyền và tạo thêm hành lang cho kinh tế số, chuyển giao công nghệ và hạ tầng viễn thông.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Gỡ vướng cho doanh nghiệp không dừng ở “trả lời kiến nghị”

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành chuyển từ việc trả lời kiến nghị sang xử lý đến cùng, xác định rõ đầu mối, thời hạn và giải pháp để doanh nghiệp thực sự tháo gỡ được khó khăn.
ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

ĐBQH đề xuất cơ chế khai thác từng phần, sớm đưa vật liệu vào công trường

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề xuất công nhận kết quả thăm dò và cho phép khai thác từng phần đối với khu vực đã xác định đủ điều kiện, ĐBQH Thái Thị An Chung cho rằng giải pháp này có thể rút ngắn thời gian cung ứng vật liệu cho các dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản.
Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Chính phủ đặt trọng tâm nâng chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng việc làm bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng việc làm và kỹ năng lao động, hướng tới đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Cần ưu tiên đoạn tuyến Vành đai 5 - vùng Thủ đô để tạo hiệu quả sớm

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km. Trong bối cảnh ngân sách trung ương dự kiến bố trí 59.700 tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải tính kỹ thứ tự đầu tư để vốn bỏ ra sớm tạo hiệu quả.
8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

8.002 dự án tồn đọng và bài toán đưa nguồn lực trở lại nền kinh tế

Hơn 4.900 dự án tồn đọng đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn, giúp giải phóng lượng lớn đất đai và nguồn vốn. Tuy nhiên, kết quả pháp lý mới là bước đầu, bởi không ít dự án vẫn chưa thực sự vận hành trở lại.
Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Việt Nam hướng tới thị trường du lịch y tế tỷ USD

Từ lợi thế về chi phí, chất lượng dịch vụ và các chuyên khoa thế mạnh, Việt Nam đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, hướng tới đón khoảng 750.000 lượt khách quốc tế vào năm 2030 và tạo doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe khoảng 1 tỷ USD.
Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Bắc Ninh hút 2,73 tỷ USD FDI: Từ lợi thế dòng vốn đến bài toán giá trị giữ lại

Hơn 2,73 tỷ USD vốn FDI, sản xuất công nghiệp tăng 19,6%, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 128,2 tỷ USD. Những con số sau 7 tháng cho thấy sức hút đầu tư của Bắc Ninh đang được chuyển hóa khá rõ vào hoạt động sản xuất. Khi dòng vốn tiếp tục tìm đến điện tử, bán dẫn và công nghệ cao, câu chuyện FDI của địa phương cũng đang bước sang một nấc mới về chất lượng và chiều sâu.
Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Ban hành 14 định mức mới mở đường cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bộ Xây dựng ban hành 14 định mức dự toán riêng, tạo cơ sở tính chi phí cho tuyến đường sắt điện khí hóa đầu tiên Việt Nam, chuẩn bị triển khai dự án quy mô lớn.
Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Bộ Xây dựng tăng tốc làm sạch dữ liệu, mở đường cho chuyển đổi số toàn ngành

Sau 20 ngày triển khai kế hoạch 100 ngày, Bộ Xây dựng đã hoàn thành một nhiệm vụ, đẩy nhanh làm sạch dữ liệu, kết nối VNeID và nâng cấp hệ thống số.
ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

ĐBQH đề xuất mở rộng cơ chế để Trung tâm tài chính quốc tế dẫn vốn vào nền kinh tế

Các đại biểu Quốc hội cho rằng Trung tâm tài chính quốc tế cần được trao thêm công cụ để huy động, phân bổ và dẫn dắt dòng vốn quốc tế vào các dự án, doanh nghiệp trong nước, qua đó phát huy vai trò động lực tăng trưởng mới.
Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Kho bạc Nhà nước huy động hơn 201.000 tỷ đồng qua trái phiếu sau 7 tháng

Lũy kế đến hết tháng 7/2026, Kho bạc Nhà nước đã huy động gần 201.165 tỷ đồng qua phát hành trái phiếu chính phủ, tương đương hơn 40% kế hoạch năm. Riêng tháng 7, lợi suất trái phiếu tại các kỳ hạn chủ yếu tăng nhẹ so với các phiên cuối tháng 5.
Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Bộ Xây dựng chốt quy mô cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng: Hơn 82km, vốn đầu tư hơn 29.000 tỷ đồng

Một tuyến cao tốc mới đang dần định hình trên bản đồ hạ tầng phía Bắc khi Bộ Xây dựng đánh giá phương án đầu tư cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng với quy mô 4 làn xe là phù hợp với quy hoạch, tiêu chuẩn và nhu cầu vận tải.
Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Doanh nghiệp cần dòng vốn đủ dài để không lỡ cơ hội tăng trưởng

Tín dụng toàn nền kinh tế đã đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, nhưng bài toán doanh nghiệp quan tâm lúc này không chỉ là có thêm vốn. Điều họ cần là nguồn vốn có chi phí hợp lý, thời hạn đủ dài và một cơ chế đánh giá phản ánh đúng năng lực kinh doanh thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.