Thứ ba 08/09/2026 13:14
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Góc nhìn Chuyên gia

Thủy điện nhỏ, nên dừng hay tiếp tục phát triển?

25/10/2020 19:30
Trận “Đại hồng thủy” vừa qua đã gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho đồng bào miền Trung và tài sản của nhà nước. Trước thảm họa trên, nhiều người đã “đổ tội” cho thủy điện vừa và nhỏ - là một trong những “thủ phạm” gây ra lũ lụt, sạt núi, phá hủ

Đây là vấn đề mang tính quyết sách, không dễ gì giải đáp ngay bởi một vài ý kiến cá nhân, kể cả ý kiến của những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực này đã được đăng tải trên các báo. Vì vậy, những ý kiến dưới đây của những nhà chuyên môn mà chúng tôi phỏng vấn cũng chỉ là những góc nhìn, mang tính chất tham khảo.

Thủy điện Rào Trăng 3 (thuộc xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế) bị đổ nát trong trận mưa lũ vừa qua, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và của.

TS. Trần Minh Huân, người từng tham gia lập nhiều dự án điện thuộc Bộ Năng lượng cho rằng, so với các nhà máy sản xuất điện khác, nếu chúng ta đừng quá tham lam thì thủy điện có lẽ ưu việt hơn cả vì vừa có tác dụng phát điện, vừa có tác dụng điều tiết nước. Nhưng từ xây dựng quy hoạch (kể cả thẩm định), thiết kế (có thẩm định), thi công (bao gồm cả giám sát), vận hành đều có bóng dáng “phần trăm” thì sẽ không chỉ thủy điện mà mọi hoạt động kinh tế đều tiềm ẩn nguy cơ có quả bom nổ chậm treo trên đầu người dân.

TS.Trần Minh Huân phân tích, các công trình thủy điện vừa và nhỏ chủ yếu nằm trên các lưu vực sông nhánh hoặc suối với diện tích lưu vực nhỏ, độ dốc lớn nên dung tích hồ chứa rất nhỏ, hiệu quả cắt giảm lũ không đáng kể.

Nước là “đầu vào” của sản xuất nên các công ty thủy điện không "xả lấy xả để". Hơn nữa, các thủy điện vừa và nhỏ không có chức năng điều tiết lũ nên nó xả nhiều nhất đúng bằng lượng nước vào hồ thôi. Hoàn toàn không có lý do để xả thêm. Tuy vậy, các thủy điện có xả kiểu gì thì lượng nước xả luôn ít hơn hoặc bằng lượng nước vào, tức là thủy điện không tạo ra thêm lũ.

Tuy nhiên cũng phải lưu ý, để có nhiều công trình thủy điện điện vừa và nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, Chính phủ thường đề ra các chế độ chính sách ưu tiên đầu tư về vốn, thuế đối với các nhà máy thủy điện xây dựng ở vùng sâu, vùng xa; xem xét giá mua và bán điện một cách hợp lý, bình đẳng giữa các nhà đầu tư, từng bước theo cơ chế thị trường. Vì thế, các doanh nghiệp lao vào làm thủy điện nhỏ vì vốn nhỏ, lãi nhiều nhưng đây lại là lợi bất cập hại, tìm cách dây dưa đền bù cho dân.

Thủy điện công suất nhỏ, nên thẩm quyền phê duyệt thuộc về các địa phương mà ở đấy thường không có chuyên gia chuyên sâu về thủy điện, thủy văn, thiết kế công trình. Ở dự án nhỏ, nhà đầu tư thường cố giảm giá thành để tăng hiệu quả kinh tế. Bởi vậy, theo TS. Trần Minh Huân, nên thu hẹp các thủy điện nhỏ, bởi thủy điện nhỏ có tuổi thọ ngắn, hiệu quả không cao, trong khi rủi ro lại rất lớn.

Trái với ý kiến “dè dặt” của TS. Trần Minh Huân, kĩ sư Địa chất Nguyễn Cảnh Hà, quyết liệt: “Phải dừng ngay việc phát triển thủy điện nhỏ!”. Là kĩ sư được đào tạo về Địa chất Thủy văn- Địa chất công trình, cả đời gắn bó với đoàn Địa chất 155, đi khắp các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, ông Nguyễn Cảnh Hà biết rõ, hơn 20 năm trở lại đây, dư luận kháo nhau: “Làm thủy điện ngon ăn, tội gì không làm!” vì thế họ đua nhau: Nhà nhà làm thuỷ điiện, người người làm thuỷ điện, các công ty chạy đôn chạy đáo để có được một công trình thuỷ điện nào đó. Kĩ sư Nguyễn Cảnh Hà cho biết, cả nước hiện khoảng 340 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, công suất từ 5MW đến dưới 100MW, chưa kể vô vàn thủy điện “cóc”. Chỉ riêng dải đất Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Đắk Nông đã có 150 dự án thủy điện chi chít khắp các dòng sông miền Trung. Suất đầu tư cho 1MW thủy điện khoảng 25 tỷ, chỉ sau 8-10 năm là dự án thu hồi vốn.

Mỗi dự án thủy điện được cấp phép là phải chặt hạ hàng trăm ha rừng, trong đó có cả rừng nguyên sinh, để làm hồ chứa nước, để san ủi mặt bằng, đắp đập xây nhà máy, để làm đường công vụ, làm đường dây tải điện, đường dẫn áp, diện tích ngập khi thuỷ đện tích nước...

Chỉ một dự án thủy điện nhỏ đã phải phá tới 100ha đến 200ha rừng nói gì đến các dự án vừa và lớn khác. Chưa nói tới chiêu trò dưới danh nghĩa làm nhà máy thủy điện nhỏ để thu gỗ quý, chặt phá rừng.

Ai đó nói, hồ thủy điện gây lũ lụt là hoàn toàn oan cho các dự án thủy điện!. Dưới góc độ kỹ thuật, quản lý vận hành, hồ thủy điện chống lũ, chứ không gây ra lũ. Thủy điện không phải là nguyên nhân gây lũ, mà do quy hoạch sai, vận hành sai! Câu hỏi đặt ra là: Lũ do hồ thủy điện xảy ra khi nào? Độ lớn bao nhiêu? Biện pháp khống chế (điều tiết) ra sao? Vấn đề này cần phải được xem xét một cách thận trọng, có căn cứ khoa học để đúc kết ra các bài học cho tương lai lâu dài.

Do quy hoạch, vận hành sai nên các công trình thuỷ điện nhỏ gây ra nhiều tác hại khôn lường mà mà các nhà hoạch định chưa thể nhìn xa hơn hoạc phớt lờ đó là:

1. Các công ty thủy điện xả nước vào các thời điểm phù hợp với các hoạt động của nhà máy chứ không quan tâm đến những ảnh hưởng sẽ có đối với vùng hạ lưu, ví dụ như vào mùa mưa, gây ra ngập lụt nghiêm trọng, mùa khô thì giữ nước để phát điện.

2. Thay đổi dòng chảy của nước là nguyên nhân gây nên xói lở bờ sông, nơi canh tác nông nghiệp của người dân.

3. Chất lượng nước vùng hạ lưu bị giảm sút.

4. Người nông dân không có đủ nước cho các hoạt động nông nghiệp.

5. Đánh bắt cá bị giảm, sạt lở bờ sông và tác động đến nông nghiệp dọc sông, nguồn nước cho sinh hoạt và sức khỏe của người dân.

6. Ở các cửa sông hiện tượng xâm nhập mặn tăng lên.

7. Những thay đổi gây ra các tác động xấu đối với nguồn lợi thủy sản. Một số loài không thể sống sót và sinh kế của các ngư dân bị đe dọa.

8. Những người di dời hầu như phải đối mặt với những khó khăn sau khi tái định cư.

9. Các cộng đồng phải tái định cư trên vùng đất nghèo, không phù hợp với kỹ thuật canh tác truyền thống của họ. Họ phải học phương thức canh tác nông nghiệp khác nhau và sẽ mất nhiều thời gian. Hoặc là quay lại sử dụng các mô hình cũ, không hợp pháp như đốt rừng làm nương rẫy và phá rừng. Ngoài ra, họ quay lại các vùng đất cũ trước đây từng sinh sống ở gần đập để khai thác rừng và sản xuất nông nghiệp. Đây là nguyên nhân của những xung đột giữa những người dân tái định cư và các nhà đầu tư thủy điện, giữa chính quyền và người dân địa phương.

10. Hầu hết những người dân tái định cư không có đủ đất để sản xuất và những khu vực tái định cư đất thường rất xấu hoặc thiếu nước.

11. Nhiều người dân tái định cư bắt buộc phải tìm kiếm việc làm ở bên ngoài. Thường là những công việc thời vụ ở các đồn điền và đòi hỏi nhiều về thể lực, chỉ thích hợp với thanh niên có sức khỏe.

12. Khi những người tái định cư không thể trồng trọt thì họ phải cố gắng tìm việc ở bên ngoài để mua thức ăn. Điều này có nghĩa là một số thành viên của gia đình phải đi xa, thường là các cô gái trẻ đến các thành phố (như các nhà máy ở thành phố Hồ Chí Minh) để làm việc và gửi tiền về hỗ trợ gia đình. Điều này làm phá vỡ cấu trúc gia đình và cũng đặt các cô gái trẻ trước những rủi ro khi ở một mình ở thành phố.

13. Tái định cư bắt buộc gây ra áp lực cho tất cả các thành viên cộng đồng và làm gia tăng các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình và cấu trúc cộng đồng bị phá vỡ.

Qua những cứ liệu trên, ông Nguyễn Cảnh Hà đề nghị nhà nước cần xem xét dừng việc phát triển thuỷ điện vừa, nhỏ và thuỷ điện cóc, bởi nó gây thiệt hại khôn lường mà Thuỷ điện Rào Trăng là một bài học quá đắt giá!

Cao Thâm (thực hiện)

Bài liên quan
Tin bài khác
Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Du lịch Việt Nam đứng trước bài toán nâng giá trị mỗi du khách

Quy mô khách du lịch của Việt Nam đang tăng nhanh, nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi nhiều hơn những kỷ lục về lượng khách. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị mở ra định hướng chuyển mạnh sang du lịch chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo và có giá trị gia tăng lớn.
Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Đừng để “lớn lên” trở thành nỗi sợ của hộ kinh doanh!

Hộ kinh doanh không thiếu năng lực làm ăn. Điều họ cần là một môi trường đủ đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán để từ một cửa hàng nhỏ có thể trở thành một cơ sở sản xuất, một doanh nghiệp và xa hơn là một mắt xích trong chuỗi giá trị.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Trung tâm tài chính Quốc Tế Việt Nam có thể hút 10-30 tỷ USD /năm

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC không thay thế ngân hàng hay chứng khoán mà mở ra kênh dẫn vốn mới, giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn quốc tế mà thị trường hiện tại chưa khai thác hết.
Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng: Kinh tế tầm thấp mở động lực mới

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng kinh tế tầm thấp đang mở ra không gian tăng trưởng mới, nhưng Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành và bài toán giữ khách ở lại Đồng Nai

Sân bay Long Thành sẽ mở rộng khả năng kết nối của Đồng Nai với du khách, nhà đầu tư và các dòng hàng hóa quốc tế. Nhưng để biến lợi thế giao thông thành doanh thu, địa phương cần kết nối du lịch, logistics, dịch vụ và doanh nghiệp thành một chuỗi trải nghiệm.
CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

CEO DK Bike Bùi Thị Bích Đào: “Hòn đá tảng” về đất đai và nhân lực

Theo Giám đốc DK Bike Bùi Thị Bích Đào, quỹ đất sản xuất và chất lượng nhân lực đang là hai điểm nghẽn lớn với doanh nghiệp tại Lạng Sơn. Bà kỳ vọng Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ đồng hành sâu sát hơn trong tháo gỡ chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp.
145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội vì sao mới giải ngân 12.440 tỷ?

Khoảng cách giữa 145.000 tỷ đồng tín dụng nhà ở xã hội được bố trí và 12.440 tỷ đồng đã giải ngân cho thấy bài toán của thị trường bất động sản không đơn giản là thiếu vốn. Dòng tiền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gặp đúng dự án, đúng nhu cầu và một cấu trúc tài chính đủ an toàn.
TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính: Bất động sản nghỉ dưỡng trước cơ hội mở chu kỳ tăng trưởng mới

TS. Nguyễn Văn Đính cho rằng du lịch phục hồi, hạ tầng được đầu tư và chính sách dần tháo gỡ đang tạo nền tảng để bất động sản nghỉ dưỡng lấy lại niềm tin giai đoạn 2026-2027.
Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Bài 13: Sửa Luật Hỗ trợ DNNVV: Chính sách phải đến doanh nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp thực sự tiếp cận được, luật sửa đổi cần chuyển từ tư duy “có chính sách” sang bảo đảm doanh nghiệp biết được hỗ trợ gì, hỏi ai, hồ sơ ra sao và bao lâu có câu trả lời. Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập đã trao đổi cùng ông Nguyễn Trung Ngọc, Chánh Văn phòng Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hải Phòng xung quanh vấn đề này.
TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

TS. Nguyễn Văn Đính: Chung cư có thời hạn không làm mất quyền sở hữu nhà ở

Theo TS. Nguyễn Văn Đính, quy định thời hạn chung cư cần được hiểu là công cụ quản lý vòng đời công trình, không phải giới hạn quyền sở hữu, nhằm đảm bảo an toàn và minh bạch thị trường.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn: Gỡ chồng chéo pháp lý để cứu thị trường bất động sản

Luật sư Phạm Thanh Tuấn cảnh báo những xung đột pháp lý trong dự thảo luật mới đang làm tắc nghẽn giao dịch, đồng thời đề xuất giải pháp thực tiễn nhằm khơi thông thị trường bất động sản.
PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung: Số hóa, tài chính hóa định hình Luật Bất động sản mới

PGS.TS Trần Kim Chung nhấn mạnh Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi phải lấy số hóa, tài chính hóa làm trụ cột, đồng thời xử lý triệt để xung đột với Luật Đất đai.
TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi: Sửa luật để kiến tạo thị trường bất động sản minh bạch

TS. Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh sửa Luật Kinh doanh bất động sản phải hướng tới kiến tạo thị trường minh bạch, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả phân bổ và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương: Dữ liệu số mở khóa minh bạch thị trường bất động sản

TS. Sử Ngọc Khương cho rằng dữ liệu số là nền tảng cốt lõi giúp thị trường bất động sản minh bạch, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng sức hút vốn dài hạn.
Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Nghịch lý rừng nhiều nhưng ngành gỗ vẫn thiếu nguyên liệu chế biến sâu

Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn của thế giới. Tuy nhiên, phía sau kết quả đó là nghịch lý khi phần lớn nguyên liệu vẫn được bán dưới dạng dăm gỗ và viên nén, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ, ván nhân tạo lại thiếu gỗ nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.