MRL trở thành yêu cầu của cả chuỗi sản xuất
Thông tin được đưa ra tại hội thảo trực tuyến cập nhật chính sách, quy định của Liên minh châu Âu về nhập khẩu thực phẩm, nông sản có nguồn gốc động thực vật, do Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ/Phái đoàn Việt Nam tại EU phối hợp với Chương trình Agrinfor của EU tổ chức chiều 24/9.
Theo ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp, Phái đoàn Việt Nam tại EU, EU là một trong những thị trường lớn của nông, lâm, thủy sản Việt Nam, với kim ngạch nhập khẩu khoảng 35 tỷ USD mỗi năm. Hiệp định EVFTA tạo lợi thế về thuế quan, song để duy trì thị trường, doanh nghiệp phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu kỹ thuật.
![]() |
| Xuất khẩu vào EU: Doanh nghiệp cần chủ động trước thay đổi về dư lượng |
Trong đó, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL) đang trở thành vấn đề cần được kiểm soát từ sớm, thay vì chỉ kiểm nghiệm một lần trước khi xuất khẩu.
Ông Chris Downes, chuyên gia chính sách và pháp luật AGRINFO/EU, cho biết EU đang thảo luận khả năng thay đổi quy định về MRL, trong đó có việc thu hẹp hoặc loại bỏ dung sai nhập khẩu đối với một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật. Nếu được áp dụng, thay đổi này có thể tác động đến những ngành hàng đang sử dụng các hoạt chất không được phép tại EU nhưng hiện vẫn được chấp nhận trong hàng nhập khẩu ở một mức dung sai nhất định.
EU hiện có hai hệ thống quy định liên quan đến thuốc bảo vệ thực vật: một hệ thống xác định hoạt chất được phép sử dụng tại EU và một hệ thống quy định MRL đối với thực phẩm. Vì vậy, một hoạt chất không được phép sử dụng tại EU vẫn có thể được sử dụng ở quốc gia ngoài EU nếu sản phẩm đáp ứng dung sai nhập khẩu.
Tuy nhiên, EU đang xem xét thay đổi cách tiếp cận đối với những hoạt chất được xác định có mức độ nguy hại cao. Theo đề xuất đang được thảo luận, MRL của một số hoạt chất có thể giảm xuống 0,01 mg/kg hoặc mức thấp nhất có thể.
Phạm vi cuối cùng của chính sách này chưa được xác định. Một số quốc gia thành viên muốn mở rộng xem xét sang các hoạt chất có nguy cơ ảnh hưởng đến ong và nguồn nước ngầm, trong khi Nghị viện châu Âu cũng đang thảo luận khả năng áp dụng đối với toàn bộ hoạt chất không được phép sử dụng tại EU.
Theo ông Chris Downes, đề xuất vẫn đang được các thiết chế EU thảo luận và Ủy ban châu Âu dự kiến thực hiện đánh giá tác động. Quy định cuối cùng có thể được thông qua trong năm 2027. Với doanh nghiệp Việt Nam, yêu cầu đặt ra là sớm rà soát các hoạt chất đang sử dụng trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực, nhất là các hoạt chất có khả năng bị ảnh hưởng. Không chỉ cần xác định nguy cơ thay đổi MRL, doanh nghiệp còn phải tính đến khả năng thay thế hoạt chất, kiểm soát sâu bệnh và duy trì sản xuất nếu quy định thay đổi.
Mỗi năm có hơn 90 hoạt chất được thay đổi MRL, trong khi thời gian chuyển tiếp thông thường khoảng 6 tháng. Với cây trồng lâu năm và những ngành hàng cần thời gian điều chỉnh quy trình sản xuất, khoảng thời gian này có thể tạo áp lực lớn.
Chậm thích ứng, doanh nghiệp có thể mất cơ hội thị trường
Song song với việc rà soát MRL, EU đang tăng cường kiểm soát hàng nhập khẩu theo mức độ rủi ro. Theo chuyên gia AGRINFO, với nhóm sản phẩm có nguy cơ nghiêm trọng, EU có thể kiểm tra thực tế từ 5-50% số lô hàng. Với nhóm có rủi ro cao hơn, các lô hàng có thể phải lấy mẫu, kiểm nghiệm, có chứng thư chính thức trước khi xuất khẩu và tiếp tục chịu kiểm tra tại biên giới EU.
Một số sản phẩm của Việt Nam hiện nằm trong diện kiểm soát tăng cường. Sầu riêng thuộc nhóm kiểm soát liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; đậu bắp, thanh long và ớt thuộc nhóm có mức kiểm soát cao hơn.
![]() |
| Sầu riêng thuộc nhóm kiểm soát liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật |
Khi kiểm soát tăng cường, chi phí xét nghiệm và thời gian thông quan có thể tăng, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên, rủi ro đáng lưu ý hơn là quan hệ với người mua. Theo ví dụ được ông Chris Downes đưa ra, trong bối cảnh EU tăng nhập khẩu thanh long, xuất khẩu thanh long của Việt Nam chỉ tăng khoảng 20%, trong khi các nhà nhập khẩu EU bắt đầu tìm kiếm nguồn cung từ Ecuador, Mexico và Thái Lan.
Điều này cho thấy cạnh tranh tại EU không chỉ phụ thuộc vào giá hay ưu đãi thuế quan. Khi một nguồn cung thường xuyên gặp vấn đề về kiểm soát, nhà nhập khẩu có thể tìm kiếm nguồn thay thế. Một khi chuỗi cung ứng mới được hình thành, việc khôi phục thị trường sau khi biện pháp kiểm soát được dỡ bỏ có thể không dễ dàng.
Do đó, các ngành hàng xuất khẩu cần thường xuyên theo dõi Hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi (RASFF), cập nhật thay đổi MRL, chia sẻ thông tin trong ngành và phối hợp với cơ quan quản lý khi xuất hiện rủi ro.
Kiểm soát dư lượng cũng cần được thực hiện ngay từ khâu sản xuất, thay vì chờ đến khi hàng chuẩn bị xuất khẩu mới kiểm tra. Với những hoạt chất có vai trò quan trọng đối với hàng xuất khẩu chủ lực, cần đánh giá mức độ phụ thuộc, khả năng thay thế và tác động nếu hoạt chất không còn được EU chấp nhận.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị cho Hệ thống phi hải quan điện tử đối với hàng nông sản nhập khẩu (ELAN), dự kiến hoàn thiện và áp dụng đầy đủ từ ngày 17/1/2028. Hệ thống hướng tới số hóa quy trình cấp, quản lý và kiểm tra chứng từ phi hải quan theo thời gian thực.
Trước đó, tại buổi họp báo thường kỳ Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra ngày 16/9, ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho biết từ ngày 1/1 đến 10/9/2026, Văn phòng SPS Việt Nam nhận 88 thông báo SPS từ EU, trong đó 61 biện pháp đã có hiệu lực. EU cũng đang rà soát quy định đối với 8 hoạt chất bảo vệ thực vật và duy trì kiểm soát tăng cường với một số nông sản Việt Nam, gồm sầu riêng 20%, thanh long 30%, đậu bắp và một số loại ớt 50%.
Trong bối cảnh quy định của EU liên tục cập nhật, theo dõi chính sách không thể chỉ thực hiện khi doanh nghiệp chuẩn bị xuất hàng. Chủ động kiểm soát từ khâu sản xuất, cập nhật sớm thay đổi MRL, chuẩn hóa dữ liệu và hồ sơ sẽ là những yếu tố quan trọng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường EU.