![]() |
VIFC-HCMC được đề xuất là trung tâm chuyển hóa vốn xanh
Tổ chức tư vấn và cộng đồng doanh nghiệp đã tham dự hội nghị Tài chính xanh Việt Nam 2026 với chủ đề “Nơi dòng vốn xanh kết nối cơ hội đầu tư”, diễn ra tại TP.HCM ngày 6/8/2026. Sự kiện do Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank), FiinGroup và Viện Tăng trưởng Xanh Toàn cầu (GGGI) Việt Nam phối hợp tổ chức.
Trình bày tham luận, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, cho biết Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư đến năm 2040 để theo đuổi tăng trưởng có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thực hiện lộ trình phát thải ròng bằng 0.
Đến năm 2035, nhu cầu tài chính dành cho thích ứng biến đổi khí hậu tại các quốc gia đang phát triển được ước tính cao gấp 12-14 lần dòng vốn công quốc tế hiện nay. Trong khi đó, chi phí vốn của nhiều dự án năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi cao gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc.
Theo đó, vấn đề không còn nằm ở câu hỏi thị trường đã có tiêu chuẩn xanh hay chưa, mà là chủ thể nào sẽ giúp dự án đạt trạng thái sẵn sàng huy động vốn, chia sẻ rủi ro ban đầu, đo lường hiệu quả và tạo thanh khoản sau phát hành.
Chuỗi chuyển đổi vốn xanh hiện có thể bị gián đoạn tại nhiều điểm, từ cam kết khí hậu, chuẩn bị dự án, giảm thiểu rủi ro, đo lường - báo cáo - thẩm định, huy động vốn cho đến giao dịch trên thị trường thứ cấp. Chỉ cần một mắt xích thiếu đồng bộ, chi phí vốn sẽ tăng lên hoặc giao dịch không thể hoàn tất.
Từ thực tế này, VIFC-HCMC được đề xuất định vị là một trung tâm chuyển hóa vốn xanh, thay vì chỉ trở thành một địa điểm niêm yết thêm các sản phẩm tài chính. Trung tâm cần có khả năng biến nhu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp và các dự án hạ tầng thành tài sản được chuẩn hóa, giảm thiểu rủi ro, đo lường tác động và có thể giao dịch xuyên biên giới.
![]() |
| Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, khoảng trống mà VIFC-HCMC có thể tập trung giải quyết nằm ở khu vực “thượng nguồn”, gồm chuẩn bị dự án, cấu trúc dòng tiền và đưa dự án đạt điều kiện tiếp cận nhà đầu tư. Ảnh: NA. |
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, các trung tâm tài chính tại London, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Luxembourg và Abu Dhabi đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần về tiêu chuẩn, công bố thông tin và phân phối sản phẩm.
“Khoảng trống mà VIFC-HCMC có thể tập trung giải quyết nằm ở khu vực “thượng nguồn”, gồm chuẩn bị dự án, cấu trúc dòng tiền và đưa dự án đạt điều kiện tiếp cận nhà đầu tư”, ông Huân nhấn mạnh.
Theo lộ trình được đề xuất, giai đoạn đầu cần ưu tiên xây dựng hệ thống phân loại xanh và chuyển đổi có khả năng tương thích quốc tế; đồng thời lựa chọn khoảng 10 dự án thí điểm thuộc nhiều lĩnh vực. Trong 6-18 tháng tiếp theo, thị trường có thể hình thành cơ sở chuẩn bị dự án, triển khai các cơ chế bảo lãnh và thực hiện từ 3-5 giao dịch tiêu biểu.
Ba mô hình được đề xuất để chứng minh khả năng vận hành của hệ sinh thái gồm: chương trình trái phiếu hạ tầng xanh TP.HCM; quỹ thích ứng và chống chịu biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long; cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro khí hậu.
Bộ chỉ tiêu tham khảo đặt mục tiêu huy động khoảng 500 triệu USD vốn xanh và vốn chuyển đổi trong 12 tháng đầu, tăng lên 2-3 tỷ USD vào cuối năm 2027 và trên 10 tỷ USD vào năm 2030. Đây là các mục tiêu đề xuất, cần tiếp tục được điều chỉnh theo nguồn lực thực tế, khả năng cung cấp vốn ưu đãi và sự tham gia của các đối tác bảo lãnh.
Thị trường đã có những tín hiệu khởi đầu. Năm 2025, Việt Nam ghi nhận 5 giao dịch phát hành trái phiếu xanh bằng đồng nội tệ, tổng giá trị 3.407 tỷ đồng; toàn bộ đều có đánh giá độc lập trước phát hành. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh cũng tạo thêm căn cứ chung để nhận diện dự án, thiết kế sản phẩm và hạn chế rủi ro “tẩy xanh”.
Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu 700 tỷ USD và quy mô giao dịch hiện tại, thị trường cần nhiều hơn một danh mục dự án xanh. Dự án phải đạt tính khả thi tài chính, có dữ liệu đáng tin cậy, dòng tiền có thể kiểm chứng và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp.
Tín dụng xanh tăng bình quân 22-23% mỗi năm
Theo ông Hà Huy Cường, Phó Tổng giám đốc Nam A Bank, Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế, đồng thời triển khai các cam kết khí hậu ngày càng cụ thể. Hai tiến trình này mở ra cơ hội đưa Việt Nam trở thành điểm kết nối dòng vốn khu vực và toàn cầu, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn, dữ liệu và năng lực thực thi.
“Việt Nam cần một hệ sinh thái tài chính xanh đủ sâu, đủ minh bạch và đủ vững chắc để chuyển hóa tham vọng thành hiện thực”, ông Cường nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Nam A Bank, tài chính xanh không phải câu chuyện riêng của ngành ngân hàng mà là điểm giao thoa giữa chính sách, thị trường vốn, doanh nghiệp và các định chế phát triển quốc tế. Vì vậy, việc các bên cùng đối thoại có ý nghĩa quan trọng trong tháo gỡ những nút thắt về khung pháp lý, hệ thống tiêu chuẩn và niềm tin của nhà đầu tư.
![]() |
| Ông Paul Xavier - Cán bộ Chương trình tại Công ty Tài chính Quốc tế (World Bank). Ảnh: NA. |
Ông Paul Xavier, Cán bộ Chương trình tại Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), cho biết tính đến quý 1/2026, tổng giá trị phát hành lũy kế của các loại trái phiếu bền vững có nhãn trên toàn cầu đạt khoảng 7.250 tỷ USD. Quy mô tài sản do các quỹ đầu tư bền vững quản lý đạt khoảng 3.510 tỷ USD. Tuy nhiên, các thị trường mới nổi mới đóng góp khoảng 15% lượng phát hành trái phiếu bền vững toàn cầu, cho thấy dòng vốn vẫn chưa được phân bổ tương xứng với nhu cầu chuyển đổi.
Đại diện IFC cũng nhấn mạnh tài chính chuyển đổi đang trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tài chính xanh truyền thống. Nếu tài chính xanh chủ yếu cấp vốn cho các dự án vốn đã đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, tài chính chuyển đổi hướng dòng tiền tới các ngành phát thải cao như thép, xi măng, hóa chất và vận tải, với điều kiện doanh nghiệp có lộ trình giảm phát thải, KPI và cơ chế giám sát đủ rõ ràng.
Tài chính xanh lam đang mở ra dư địa mới. Đến tháng 6/2025, quy mô phát hành lũy kế của thị trường trái phiếu xanh lam toàn cầu đạt khoảng 15,25 tỷ USD, tăng hơn 800 lần so với giai đoạn đầu. Riêng Đông Nam Á được ước tính có khoảng trống tài chính khoảng 2.100 tỷ USD cho kinh tế biển, đặc biệt tại các lĩnh vực phát triển ven biển và hạ tầng kiểm soát ô nhiễm.
Tại Việt Nam, dư nợ tín dụng xanh cuối năm 2025 đạt gần 780.000 tỷ đồng, tăng khoảng 14,62% so với cùng kỳ và chiếm 4,19% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng xanh duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025, trong đó các ngân hàng thương mại cung cấp khoảng 88% tổng dư nợ.
Như vậy, ngân hàng đang giữ vai trò kênh truyền dẫn chủ yếu, đưa mục tiêu và chính sách xanh thành dòng vốn đi vào doanh nghiệp, dự án hạ tầng và các hoạt động sản xuất cụ thể. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô, ngân hàng không chỉ cần nguồn vốn dài hạn mà còn phải xây dựng năng lực nhận diện dự án, đánh giá rủi ro khí hậu, theo dõi dữ liệu ESG và đo lường hiệu quả sau giải ngân.
Một dấu mốc tại hội nghị là thỏa thuận đối tác chiến lược giữa Nam A Bank và Quỹ Đầu tư Thụy Sĩ cho các thị trường mới nổi (SIFEM). Thỏa thuận được kỳ vọng mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại dài hạn, bổ sung nguồn lực cho các dự án chuyển đổi xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam. Giá trị của hợp tác không chỉ nằm ở dòng tiền, mà còn ở yêu cầu về quản trị, đo lường tác động và chuẩn mực quốc tế đi kèm nguồn vốn. |