Thứ năm 06/08/2026 17:42
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

Thách thức của Net Zero (chuyển đổi hướng tới phát thải ròng bằng 0) của Việt Nam không chỉ nằm ở việc tìm nguồn vốn, mà còn ở khả năng xây dựng hạ tầng thị trường và chuẩn hóa dự án để dòng tiền quốc tế có thể đi vào nền kinh tế một cách thực chất.
Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050

VIFC-HCMC được đề xuất là trung tâm chuyển hóa vốn xanh

Tổ chức tư vấn và cộng đồng doanh nghiệp đã tham dự hội nghị Tài chính xanh Việt Nam 2026 với chủ đề “Nơi dòng vốn xanh kết nối cơ hội đầu tư”, diễn ra tại TP.HCM ngày 6/8/2026. Sự kiện do Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank), FiinGroup và Viện Tăng trưởng Xanh Toàn cầu (GGGI) Việt Nam phối hợp tổ chức.

Trình bày tham luận, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, cho biết Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư đến năm 2040 để theo đuổi tăng trưởng có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thực hiện lộ trình phát thải ròng bằng 0.

Đến năm 2035, nhu cầu tài chính dành cho thích ứng biến đổi khí hậu tại các quốc gia đang phát triển được ước tính cao gấp 12-14 lần dòng vốn công quốc tế hiện nay. Trong khi đó, chi phí vốn của nhiều dự án năng lượng sạch tại các thị trường mới nổi cao gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc.

Theo đó, vấn đề không còn nằm ở câu hỏi thị trường đã có tiêu chuẩn xanh hay chưa, mà là chủ thể nào sẽ giúp dự án đạt trạng thái sẵn sàng huy động vốn, chia sẻ rủi ro ban đầu, đo lường hiệu quả và tạo thanh khoản sau phát hành.

Chuỗi chuyển đổi vốn xanh hiện có thể bị gián đoạn tại nhiều điểm, từ cam kết khí hậu, chuẩn bị dự án, giảm thiểu rủi ro, đo lường - báo cáo - thẩm định, huy động vốn cho đến giao dịch trên thị trường thứ cấp. Chỉ cần một mắt xích thiếu đồng bộ, chi phí vốn sẽ tăng lên hoặc giao dịch không thể hoàn tất.

Từ thực tế này, VIFC-HCMC được đề xuất định vị là một trung tâm chuyển hóa vốn xanh, thay vì chỉ trở thành một địa điểm niêm yết thêm các sản phẩm tài chính. Trung tâm cần có khả năng biến nhu cầu chuyển đổi của doanh nghiệp và các dự án hạ tầng thành tài sản được chuẩn hóa, giảm thiểu rủi ro, đo lường tác động và có thể giao dịch xuyên biên giới.

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC, khoảng trống mà VIFC-HCMC có thể tập trung giải quyết nằm ở khu vực “thượng nguồn”, gồm chuẩn bị dự án, cấu trúc dòng tiền và đưa dự án đạt điều kiện tiếp cận nhà đầu tư. Ảnh: NA.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, các trung tâm tài chính tại London, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Luxembourg và Abu Dhabi đã hình thành tương đối đầy đủ các cấu phần về tiêu chuẩn, công bố thông tin và phân phối sản phẩm.

“Khoảng trống mà VIFC-HCMC có thể tập trung giải quyết nằm ở khu vực “thượng nguồn”, gồm chuẩn bị dự án, cấu trúc dòng tiền và đưa dự án đạt điều kiện tiếp cận nhà đầu tư”, ông Huân nhấn mạnh.

Theo lộ trình được đề xuất, giai đoạn đầu cần ưu tiên xây dựng hệ thống phân loại xanh và chuyển đổi có khả năng tương thích quốc tế; đồng thời lựa chọn khoảng 10 dự án thí điểm thuộc nhiều lĩnh vực. Trong 6-18 tháng tiếp theo, thị trường có thể hình thành cơ sở chuẩn bị dự án, triển khai các cơ chế bảo lãnh và thực hiện từ 3-5 giao dịch tiêu biểu.

Ba mô hình được đề xuất để chứng minh khả năng vận hành của hệ sinh thái gồm: chương trình trái phiếu hạ tầng xanh TP.HCM; quỹ thích ứng và chống chịu biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long; cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro khí hậu.

Bộ chỉ tiêu tham khảo đặt mục tiêu huy động khoảng 500 triệu USD vốn xanh và vốn chuyển đổi trong 12 tháng đầu, tăng lên 2-3 tỷ USD vào cuối năm 2027 và trên 10 tỷ USD vào năm 2030. Đây là các mục tiêu đề xuất, cần tiếp tục được điều chỉnh theo nguồn lực thực tế, khả năng cung cấp vốn ưu đãi và sự tham gia của các đối tác bảo lãnh.

Thị trường đã có những tín hiệu khởi đầu. Năm 2025, Việt Nam ghi nhận 5 giao dịch phát hành trái phiếu xanh bằng đồng nội tệ, tổng giá trị 3.407 tỷ đồng; toàn bộ đều có đánh giá độc lập trước phát hành. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh cũng tạo thêm căn cứ chung để nhận diện dự án, thiết kế sản phẩm và hạn chế rủi ro “tẩy xanh”.

Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng cách giữa nhu cầu 700 tỷ USD và quy mô giao dịch hiện tại, thị trường cần nhiều hơn một danh mục dự án xanh. Dự án phải đạt tính khả thi tài chính, có dữ liệu đáng tin cậy, dòng tiền có thể kiểm chứng và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp.

Tín dụng xanh tăng bình quân 22-23% mỗi năm

Theo ông Hà Huy Cường, Phó Tổng giám đốc Nam A Bank, Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế, đồng thời triển khai các cam kết khí hậu ngày càng cụ thể. Hai tiến trình này mở ra cơ hội đưa Việt Nam trở thành điểm kết nối dòng vốn khu vực và toàn cầu, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn, dữ liệu và năng lực thực thi.

“Việt Nam cần một hệ sinh thái tài chính xanh đủ sâu, đủ minh bạch và đủ vững chắc để chuyển hóa tham vọng thành hiện thực”, ông Cường nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Nam A Bank, tài chính xanh không phải câu chuyện riêng của ngành ngân hàng mà là điểm giao thoa giữa chính sách, thị trường vốn, doanh nghiệp và các định chế phát triển quốc tế. Vì vậy, việc các bên cùng đối thoại có ý nghĩa quan trọng trong tháo gỡ những nút thắt về khung pháp lý, hệ thống tiêu chuẩn và niềm tin của nhà đầu tư.

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050
Ông Paul Xavier - Cán bộ Chương trình tại Công ty Tài chính Quốc tế (World Bank). Ảnh: NA.

Ông Paul Xavier, Cán bộ Chương trình tại Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), cho biết tính đến quý 1/2026, tổng giá trị phát hành lũy kế của các loại trái phiếu bền vững có nhãn trên toàn cầu đạt khoảng 7.250 tỷ USD. Quy mô tài sản do các quỹ đầu tư bền vững quản lý đạt khoảng 3.510 tỷ USD. Tuy nhiên, các thị trường mới nổi mới đóng góp khoảng 15% lượng phát hành trái phiếu bền vững toàn cầu, cho thấy dòng vốn vẫn chưa được phân bổ tương xứng với nhu cầu chuyển đổi.

Đại diện IFC cũng nhấn mạnh tài chính chuyển đổi đang trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tài chính xanh truyền thống. Nếu tài chính xanh chủ yếu cấp vốn cho các dự án vốn đã đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, tài chính chuyển đổi hướng dòng tiền tới các ngành phát thải cao như thép, xi măng, hóa chất và vận tải, với điều kiện doanh nghiệp có lộ trình giảm phát thải, KPI và cơ chế giám sát đủ rõ ràng.

Tài chính xanh lam đang mở ra dư địa mới. Đến tháng 6/2025, quy mô phát hành lũy kế của thị trường trái phiếu xanh lam toàn cầu đạt khoảng 15,25 tỷ USD, tăng hơn 800 lần so với giai đoạn đầu. Riêng Đông Nam Á được ước tính có khoảng trống tài chính khoảng 2.100 tỷ USD cho kinh tế biển, đặc biệt tại các lĩnh vực phát triển ven biển và hạ tầng kiểm soát ô nhiễm.

Tại Việt Nam, dư nợ tín dụng xanh cuối năm 2025 đạt gần 780.000 tỷ đồng, tăng khoảng 14,62% so với cùng kỳ và chiếm 4,19% tổng dư nợ nền kinh tế. Tín dụng xanh duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025, trong đó các ngân hàng thương mại cung cấp khoảng 88% tổng dư nợ.

Như vậy, ngân hàng đang giữ vai trò kênh truyền dẫn chủ yếu, đưa mục tiêu và chính sách xanh thành dòng vốn đi vào doanh nghiệp, dự án hạ tầng và các hoạt động sản xuất cụ thể. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô, ngân hàng không chỉ cần nguồn vốn dài hạn mà còn phải xây dựng năng lực nhận diện dự án, đánh giá rủi ro khí hậu, theo dõi dữ liệu ESG và đo lường hiệu quả sau giải ngân.

Việt Nam cần 700 tỷ USD cho lộ trình Net Zero đến năm 2050
Nam A Bank và Quỹ Đầu tư Thụy Sĩ cho các thị trường mới nổi (SIFEM) ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược. Ảnh: NA.

Một dấu mốc tại hội nghị là thỏa thuận đối tác chiến lược giữa Nam A Bank và Quỹ Đầu tư Thụy Sĩ cho các thị trường mới nổi (SIFEM). Thỏa thuận được kỳ vọng mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại dài hạn, bổ sung nguồn lực cho các dự án chuyển đổi xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam. Giá trị của hợp tác không chỉ nằm ở dòng tiền, mà còn ở yêu cầu về quản trị, đo lường tác động và chuẩn mực quốc tế đi kèm nguồn vốn.

Tin bài khác
Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Hải Phòng tăng tốc về đích, quyết tâm chinh phục mục tiêu GRDP 13%

Sau nửa đầu năm ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong 5 năm qua, Hải Phòng tiếp tục điều chỉnh kịch bản phát triển cho 6 tháng cuối năm với quyết tâm hoàn thành mục tiêu GRDP đạt 13%. Thành phố đồng thời kích hoạt hàng loạt giải pháp đột phá, giao rõ trách nhiệm cho từng ngành, từng địa phương để tạo bứt phá trên mọi lĩnh vực.
Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Dung Quất được đề xuất cơ chế đặc thù phát triển trung tâm năng lượng quốc gia

Đề án phát triển Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất đang được khẩn trương hoàn thiện theo hướng xây dựng cơ chế đặc thù về đầu tư, đất đai, tài chính và ưu đãi nhằm hình thành chuỗi công nghiệp năng lượng tích hợp, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển.
Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Trình Quốc hội dự án vành đai 5 vùng Thủ đô trên 288.000 tỷ đồng

Dự án Vành đai 5 vùng Thủ đô với tổng vốn hơn 288.000 tỷ đồng đang được trình Quốc hội xem xét, đặt ra bài toán lớn về nguồn lực, tiến độ và hiệu quả đầu tư trong giai đoạn tới.
TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

TP. Hồ Chí Minh nâng chuẩn lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao

Không còn đặt mục tiêu thu hút FDI bằng mọi giá, TP. Hồ Chí Minh đang thay đổi tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Những dự án sở hữu công nghệ cao, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tạo sức lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước trở thành ưu tiên trong chiến lược phát triển giai đoạn mới.
ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

ĐBQH đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, một số đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung hoạt động kinh doanh kim cương vào danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời kiến nghị siết quản lý đối với một số mô hình kinh doanh mới tiềm ẩn nhiều rủi ro.
ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

ĐBQH: Cấm kinh doanh khí cười N₂O cần đồng bộ quy định để ngăn mua bán trái phép

Thảo luận tại Quốc hội, nhiều đại biểu ủng hộ việc cấm đầu tư, kinh doanh khí cười N₂O nhưng cho rằng cần hoàn thiện cơ sở pháp lý và quy định chuyển tiếp để bảo đảm xử lý hiệu quả các hành vi mua bán trái phép, tránh phát sinh vướng mắc trong thực thi.
ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

ĐBQH đề xuất hoàn thiện hạ tầng số, rút ngắn thời gian kiểm tra sau thông quan

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng số, tăng cường kết nối liên thông và cải cách thủ tục nhằm rút ngắn thời gian xử lý, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời bảo đảm tính khả thi của các quy định mới.
Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Đề xuất siết quản lý thiết kế đô thị tại các dự án bất động sản quy mô lớn

Thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung cơ chế kiểm soát chặt thiết kế đô thị đối với các dự án bất động sản quy mô lớn nhằm bảo đảm cảnh quan, phát triển kiến trúc bền vững và nâng cao chất lượng không gian đô thị.
Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Vũng Áng định hình khu kinh tế ven biển đa ngành, ưu tiên 5 nhóm dự án đến 2030

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 5/8/2026 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng đến năm 2050. Quy hoạch mới đặt mục tiêu xây dựng khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng, tạo dư địa thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics và hệ thống đô thị hiện đại, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho tỉnh Hà Tĩnh.
Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Cao tốc TP.HCM - Long Thành tăng tốc thi công quyết về đích năm 2026

Các nhà thầu đang tăng tốc thi công dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Long Thành, vượt khó về vật liệu, thời tiết, quyết hoàn thành đúng tiến độ năm 2026 theo yêu cầu Chính phủ.
Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việt Nam hoàn tất hồ sơ nâng hạng tuân thủ thuế, hướng tới rời danh sách thuế EU

Việc hoàn thành hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu gửi Ban Thư ký Diễn đàn Toàn cầu đánh dấu thêm một bước trong lộ trình nâng cao mức độ minh bạch về thuế của Việt Nam. Nếu đạt kết quả tích cực, quá trình này sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, tăng uy tín quốc gia và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động của doanh nghiệp trong các giao dịch quốc tế.
Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Yêu cầu đẩy nhanh hoàn thiện cao tốc phân kỳ, ưu tiên mở rộng 2 làn lên 4 làn

Chính phủ yêu cầu rà soát, ưu tiên đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ, tập trung mở rộng 2 làn lên 4 làn, đồng thời linh hoạt huy động nguồn lực nhằm bảo đảm mục tiêu hạ tầng đến năm 2030.
Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Hải quan Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng tầm hợp tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Thương mại toàn cầu biến động và các thách thức về an ninh chuỗi cung ứng, gian lận thương mại xuyên biên giới ngày càng gia tăng, Hải quan Việt Nam đang chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, thúc đẩy hiện đại hóa quản lý, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và nâng cao vị thế tại các diễn đàn hải quan khu vực, toàn cầu.
Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Lâm Đồng: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam dồn lực đưa sân bay Liên Khương mở lại ngày 19-8

Chiều 4/8, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng và các hãng hàng không về kế hoạch phục hồi hoạt động bay đến địa phương.
Đổi cách quản lý mã số vùng trồng, doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý từng thị trường

Đổi cách quản lý mã số vùng trồng, doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý từng thị trường

Việc cắt giảm thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý và chuyển toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng lên môi trường số được kỳ vọng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, mã số vùng trồng được cấp trong nước chưa đồng nghĩa với việc nông sản đủ điều kiện xuất khẩu, bởi quyền công nhận cuối cùng ở nhiều thị trường vẫn thuộc cơ quan quản lý nước nhập khẩu. Đây là lưu ý quan trọng được Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh tại hội nghị triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 4/8.