Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 4/8 tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hội nghị tập trung làm rõ những thay đổi trong phương thức quản lý, đồng thời hướng dẫn địa phương và doanh nghiệp thực hiện các quy định mới.
![]() |
| Việc minh bạch hóa dữ liệu vùng trồng được coi là nền tảng để xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia. |
Một trong những nội dung được các đại biểu đặc biệt lưu ý là mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu gắn với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu riêng của từng quốc gia.
Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, hiện các thị trường nhập khẩu đang áp dụng hai cơ chế quản lý khác nhau đối với mã số vùng trồng.
Đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu sẽ trực tiếp xem xét, phê duyệt hoặc công nhận mã số vùng trồng thông qua hồ sơ kỹ thuật, đánh giá trực tuyến hoặc kiểm tra thực địa. Phía Việt Nam chỉ thực hiện rà soát, tổng hợp hồ sơ và gửi danh sách đề nghị.
Điều đó đồng nghĩa, một vùng trồng dù đã được cấp mã số trong nước nhưng nếu chưa được nước nhập khẩu công nhận thì vẫn chưa đủ điều kiện để xuất khẩu.
Trong khi đó, EU, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Chile và Thái Lan lại áp dụng cơ chế khác. Các thị trường này cơ bản chấp nhận danh sách mã số do Việt Nam xác nhận và thực hiện hậu kiểm trong quá trình nhập khẩu.
Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, dù quy trình công nhận thuận lợi hơn nhưng các yêu cầu về duy trì điều kiện vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và an toàn sinh học vẫn được kiểm soát rất nghiêm ngặt. Vì vậy, mã số vùng trồng không phải "giấy thông hành" dùng chung cho mọi thị trường, mà doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ yêu cầu của từng nước trước khi xây dựng kế hoạch xuất khẩu.
Đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh phân cấp và số hóa
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP là bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy cải cách hành chính, tăng cường phân cấp và đổi mới phương thức quản lý trong lĩnh vực trồng trọt.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh: "Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết là nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt, đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng nhất cho người dân và doanh nghiệp". |
Điểm thay đổi đáng chú ý là Chủ tịch UBND cấp xã được giao trực tiếp cấp, cấp lại, quản lý, hậu kiểm và thu hồi mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói khi phát hiện vi phạm. Việc phân cấp này giúp rút ngắn quy trình, đưa dịch vụ công đến gần người dân và doanh nghiệp hơn.
Về hồ sơ, Nghị quyết 36 cắt giảm còn đơn đề nghị, bãi bỏ bản thuyết minh theo quy định trước đây, qua đó giảm khoảng 50% giấy tờ phải chuẩn bị.
Toàn bộ thủ tục sẽ được thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID.
Ông Nguyễn Thanh Tùng - đại diện Cục Chuyển đổi số - cho biết hệ thống sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn cấp xã, giúp người dân không phải xác định nơi tiếp nhận như trước.
Thời gian giải quyết cũng được rút ngắn đáng kể. Đối với vùng trồng không phục vụ xuất khẩu, thời gian xử lý giảm từ 14 ngày xuống còn 3 ngày. Đối với vùng trồng đăng ký xuất khẩu, thời gian giải quyết còn 10 ngày làm việc do vẫn phải thực hiện các bước thẩm định theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết thêm, Bộ sẽ triển khai đợt hỗ trợ cao điểm tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi để bảo đảm việc triển khai quy định mới diễn ra đồng bộ.
Minh bạch dữ liệu để nâng sức cạnh tranh nông sản
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị quyết 36 đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống", đồng thời kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia.
Một điểm mới là người đăng ký phải khai báo rõ thị trường xuất khẩu ngay từ đầu. Cách làm này giúp cơ quan chuyên môn áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và tiêu chí đánh giá tương ứng với từng quốc gia, hạn chế hồ sơ không đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu.
Đối với doanh nghiệp, việc hiểu rõ cơ chế công nhận của từng thị trường sẽ giúp chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, ký kết hợp đồng và tổ chức xuất khẩu, hạn chế rủi ro phát sinh khi mã số chưa được phía đối tác chấp thuận.
Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh: "Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết là nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu chung cho nông sản Việt, đồng thời tạo môi trường hành chính minh bạch, thông thoáng nhất cho người dân và doanh nghiệp".