Thứ ba 15/09/2026 21:46
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon

21/08/2024 16:15
Để phát triển thị trường tín chỉ carbon, Chính phủ và doanh nghiệp phải cải thiện hợp tác và giao tiếp. Chính phủ cần cung cấp chính sách rõ ràng và hỗ trợ, trong khi doanh nghiệp phải áp dụng chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

Cần triển khai các chiến lược đồng bộ cho thị trường tín chỉ carbon

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gia tăng mức độ nghiêm trọng, việc giảm phát thải khí nhà kính trở thành một nhiệm vụ cấp bách đối với nhiều quốc gia. Thị trường tín chỉ carbon, với cơ chế hoạt động dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", đã nổi lên như một công cụ thiết yếu trong việc hỗ trợ các quốc gia và doanh nghiệp, đặc biệt là tại Việt Nam, đạt được các mục tiêu khí hậu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn CO2 không phát thải hoặc được loại bỏ khỏi khí quyển, và hệ thống cho phép các công ty mua bán tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Để thị trường tín chỉ carbon có thể phát triển bền vững và hiệu quả, việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược là rất quan trọng.

Hiện nay, các Chính sách của Chính phủ được xem có vai trò then chốt trong việc thiết lập và điều chỉnh thị trường tín chỉ carbon tại nước ta. Để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ, cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng. Điều này bao gồm việc thiết lập các giới hạn phát thải cụ thể cho các ngành công nghiệp, quy định chặt chẽ về báo cáo và kiểm toán lượng phát thải cũng như tín chỉ sử dụng, và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần khuyến khích sự phát triển của công nghệ sạch để các công ty có thể giảm thiểu phát thải hiệu quả hơn.

Để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần triển khai các chiến lược phát triển đồng bộ. Việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về lợi ích và cơ chế hoạt động của thị trường là cần thiết để tăng cường sự tham gia và hiểu biết. Hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng, giúp các quốc gia học hỏi từ kinh nghiệm của nhau và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Khuyến khích đổi mới bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, thị trường tín chỉ carbon cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự thiếu đồng bộ giữa các hệ thống chính sách và quy định quốc gia có thể gây khó khăn trong việc giao dịch tín chỉ xuyên biên giới. Rủi ro gian lận, chẳng hạn như báo cáo sai lệch hoặc giao dịch tín chỉ không hợp pháp, có thể làm giảm hiệu quả của hệ thống. Thêm vào đó, sự biến động giá cả tín chỉ carbon có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp và làm giảm tính ổn định của thị trường.

Để vượt qua những thách thức này, việc xây dựng cầu nối vững chắc giữa chính sách và chiến lược là điều cần thiết. Chính sách cần phải được tích hợp chặt chẽ với thực tiễn của thị trường và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời cần có sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình lập pháp. Việc áp dụng công nghệ để theo dõi, báo cáo và xác minh lượng phát thải sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và tin cậy của thị trường. Cuối cùng, việc liên tục đánh giá và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình thực tế và mục tiêu phát triển bền vững là cần thiết để đảm bảo sự thành công của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam.

Liên quan đến vấn đề này, trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon, cho rằng, để phát triển bền vững thị trường tín chỉ carbon ở nước ta, việc tạo dựng một cầu nối hiệu quả giữa chính sách và chiến lược là cực kỳ quan trọng. Cần có một khung pháp lý rõ ràng và chặt chẽ là nền tảng cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động giao dịch tín chỉ carbon. “Chính phủ cần thiết lập các quy định cụ thể về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán, cũng như các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự tin tưởng vào thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các chiến lược giảm phát thải một cách hiệu quả’, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon
Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon.

Bà Thúy khẳng định, việc nâng cao nhận thức và đào tạo cho các bên liên quan là một yếu tố không thể thiếu. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ về cơ chế hoạt động của thị trường tín chỉ carbon, lợi ích của việc giảm phát thải, cũng như cách tận dụng tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Chính phủ nên phối hợp với các tổ chức đào tạo và các hiệp hội ngành nghề để tổ chức các khóa học và hội thảo, giúp các doanh nghiệp nắm bắt thông tin và ứng dụng vào thực tiễn. Sự tham gia chủ động của các bên liên quan sẽ thúc đẩy thị trường tín chỉ carbon phát triển đồng bộ và hiệu quả hơn.

Bà thúy phân tích, việc hợp tác quốc tế và khuyến khích đổi mới công nghệ là điều kiện cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng tối đa tiềm năng của thị trường tín chỉ carbon. Các hiệp định và chương trình quốc tế có thể cung cấp cho Việt Nam những kinh nghiệm quý báu và công nghệ tiên tiến trong quản lý phát thải và giao dịch tín chỉ. Đồng thời, Chính phủ nên tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất, nhằm giảm thiểu phát thải và nâng cao hiệu quả của thị trường. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách, chiến lược và công nghệ sẽ là chìa khóa để phát triển thị trường tín chỉ carbon một cách bền vững và hiệu quả.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon Việt Nam

Thị trường tín chỉ carbon đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Được thiết lập dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", hệ thống này cho phép các quốc gia và doanh nghiệp mua bán tín chỉ carbon để cân bằng lượng phát thải của mình. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, việc tối ưu hóa hoạt động của thị trường tín chỉ carbon là một nhiệm vụ cấp bách để đạt được các mục tiêu khí hậu và phát triển bền vững.

Để thị trường tín chỉ carbon phát triển mạnh mẽ và hiệu quả, sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế là rất quan trọng. Chính phủ cần thiết lập khung pháp lý rõ ràng, công bằng và minh bạch, đồng thời áp dụng các biện pháp kiểm soát và khuyến khích công nghệ sạch. Doanh nghiệp, từ phía mình, cần chủ động triển khai các chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon một cách hiệu quả. Cộng đồng quốc tế có thể đóng vai trò hỗ trợ qua việc chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến, cũng như thiết lập các hiệp định hợp tác toàn cầu.

Việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược không chỉ giúp tăng cường tính bền vững của thị trường tín chỉ carbon mà còn góp phần vào nỗ lực bảo vệ môi trường. Một hệ thống tín chỉ carbon minh bạch và công bằng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và quốc gia tham gia, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan sẽ giúp đạt được các mục tiêu khí hậu, bảo vệ hành tinh xanh và duy trì cân bằng môi trường cho các thế hệ tương lai.

Thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam đang trên đà phát triển và dự kiến sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia. Khi Việt Nam cam kết đạt được các mục tiêu khí hậu quốc tế, thị trường tín chỉ carbon cung cấp một cơ hội quý giá để các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ cân bằng lượng khí thải và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường này, cần có một khung pháp lý rõ ràng và sự hỗ trợ đồng bộ từ các bên liên quan.

Một trong những thách thức lớn nhất mà thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam phải đối mặt là việc xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý và quy định hiệu quả. Chính phủ cần nhanh chóng thiết lập các quy định chi tiết về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán tín chỉ carbon, cũng như áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ carbon mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và các giải pháp giảm phát thải.

Đồng thời, sự hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam. Tham gia vào các hiệp định khí hậu toàn cầu và các chương trình hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Việc thúc đẩy đổi mới công nghệ và khuyến khích đầu tư vào các dự án bền vững sẽ giúp tạo ra những lợi ích dài hạn cho nền kinh tế và môi trường.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không thiếu thách thức. Sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách và chiến lược, cùng với sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, sẽ là chìa khóa để thị trường tín chỉ carbon phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào nỗ lực bảo vệ môi trường toàn cầu.

Ảnh minh họa
GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Ảnh: Internet)

Tuy nhiên, GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, lại chỉ ra rằng, sự hiểu biết về thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam hiện vẫn còn rất hạn chế.

Ông cho rằng, nếu Chính phủ chỉ đưa ra các quy định mà chưa thực sự nghiên cứu sâu về nội dung và cơ chế hoạt động của tín chỉ carbon, thì những quy định này có thể chỉ mang tính hình thức và không đạt hiệu quả thực sự.

Ông Cơ nhấn mạnh, để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần có sự hiện diện của cả người mua và người bán. Tuy nhiên, vấn đề hiện tại là chưa có một cơ chế nào rõ ràng để cấp phát tín chỉ carbon ở Việt Nam, quy định các tiêu chuẩn tín chỉ, và xác định các bên tham gia giao dịch. Điều này dẫn đến lo ngại rằng thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam có thể chỉ dừng lại ở mức hình thức, thiếu tính thực tiễn và hiệu quả.

Theo ông Cơ, sự thành công của thị trường tín chỉ carbon phụ thuộc vào việc các bên liên quan, đặc biệt, phải hiểu rõ và đầy đủ về tín chỉ carbon. Cần có một lộ trình cụ thể và các cơ chế thực thi minh bạch để tín chỉ carbon có thể phát huy tác dụng và đóng góp hiệu quả vào công cuộc giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Phan Chính

Thị trường carbon Việt Nam: Từ quyền phát thải đến tài sản xanh
15/09/2026 20:49

TP. Hồ Chí Minh mở rộng dư địa cho kinh tế carbon thấp
03/09/2026 16:46

Khi hãng hàng không lên núi trồng rừng, bước xuống ruộng lúa
28/07/2026 11:14

Thị trường carbon ASEAN có thể đạt doanh thu 3.000 tỷ USD vào năm 2050
10/12/2024 13:32

Bà Rịa- Vũng Tàu: Sản phẩm OCOP góp phần nâng cao cuộc sống người dân nông thôn
17/10/2024 09:09

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIV: Carboncor Asphalt - Giải pháp hiệu quả để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0
26/08/2024 16:08

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon
21/08/2024 16:15

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXII: Đào tạo nguồn nhân lực nhiệm vụ chiến lược cấp bách cho thị trường tín chỉ carbon
19/08/2024 09:04

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXI: Vai trò quan trọng của các Khu Dự trữ Sinh quyển trong việc tích tụ carbon và hấp thụ CO2
11/08/2024 08:40

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XX: Thị trường tín chỉ carbon mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích đáng kể
08/08/2024 16:25

Tin bài khác
TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút gần 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 57,7% kế hoạch, cao hơn bình quân chung cả nước. Thành phố cũng quyết định cắt giảm 42% số lượng dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để tập trung nguồn lực cho hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư theo phương thức PPP.
TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

Cục Đường sắt Việt Nam đề xuất quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 508 km và 4 ga đầu mối. Tổng nhu cầu vốn dự kiến 544.231 tỷ đồng, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần 92.673 tỷ đồng.
Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn định hình một cấu trúc kinh tế mới, kết nối cao nguyên, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển.
Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Trong lộ trình vươn mình trở thành đầu mối khơi thông nguồn lực tài chính cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cuộc gặp gỡ sáng 15/9/2026 giữa Lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh và Thị trưởng Trung tâm Tài chính London (Vương quốc Anh) đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt. Không chỉ dừng lại ở những trao đổi ngoại giao mang tính nguyên tắc, hai bên đã cùng đặt lên bàn đàm phán những bài toán hạ tầng cụ thể, tạo dựng một thế đối xứng chiến lược để đưa Trung tâm tài chính quốc tế TP. TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) tăng tốc hội nhập toàn cầu.
Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Việc cập nhật chính sách, giải đáp trực tiếp các vấn đề về thuế không chỉ giúp doanh nghiệp FDI thực hiện đúng nghĩa vụ, mà còn góp phần giảm chi phí tuân thủ, củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho hoạt động đầu tư ổn định, lâu dài tại Hải Phòng.
Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Việc Việt Nam - Slovakia chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược đang tạo thêm nền tảng để hai nước mở rộng hợp tác kinh tế, công nghệ, năng lượng và quốc phòng, đồng thời thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và đưa các lĩnh vực mới như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào chương trình hợp tác song phương.
Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 mở ra những đổi mới động lực tăng trưởng, khoa học - công nghệ và phát triển bền vững.
Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Bộ Công Thương dự báo hệ thống điện có thể thiếu 13.964 MW công suất cực đại và 61,18 tỷ kWh sản lượng vào năm 2030, trong kịch bản các dự án nguồn điện tiếp tục chậm tiến độ. Bộ đề xuất triển khai các giải pháp cấp bách, đồng thời điều chỉnh Quy hoạch điện VIII để bảo đảm cung ứng điện.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động kiểm soát lạm phát, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu và xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá trong những tháng cuối năm 2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 3 định hướng lớn nhằm nâng cao sức chống chịu của các nền kinh tế, kiến tạo động lực tăng trưởng mới và chuyển các cơ hội hợp tác khoa học - công nghệ thành những chương trình, dự án cụ thể.
Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Việt Nam thúc đẩy hợp tác với GMR, hướng tới các dự án sân bay, đô thị sân bay và công nghệ hàng không.
Bộ Công Thương tái phân vai quản lý năng lượng, khoáng sản và thương mại số

Bộ Công Thương tái phân vai quản lý năng lượng, khoáng sản và thương mại số

Cơ cấu mới của Bộ Công Thương vừa giảm số đầu mối, vừa phân lại chức năng quản lý ở nhiều lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu.
TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh vươn tới tầm nhìn 100 năm bằng siêu đô thị đa cực

TP. Hồ Chí Minh đang xây dựng một cấu trúc phát triển mới trên không gian hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Mô hình siêu đô thị đa cực, các hành lang liên kết chiến lược cùng hệ thống giao thông đa tầng được kỳ vọng mở rộng không gian tăng trưởng và nâng khả năng chống chịu của đô thị trong 50-100 năm tới.
Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Doanh nghiệp phải chuyển từ “bán được hàng” sang tham gia chuỗi giá trị

Thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh có cấu trúc, kéo theo sự sắp xếp lại chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, doanh nghiệp Việt không thể chỉ cạnh tranh bằng giá và sản lượng, mà phải nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu để giữ lại nhiều hơn giá trị trong chuỗi.
Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội mở rộng đầu tư tại Cần Thơ

Cần Thơ đang được doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá có nhiều dư địa để mở rộng đầu tư, nhờ nguồn nhân lực, thị trường và vị trí trung tâm vùng. Tuy nhiên, thành phố cần tiếp tục cải thiện hạ tầng khu công nghiệp, điện, thoát nước và môi trường đầu tư để đón dòng vốn mới.