Thứ tư 28/10/2026 04:13
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon

21/08/2024 16:15
Để phát triển thị trường tín chỉ carbon, Chính phủ và doanh nghiệp phải cải thiện hợp tác và giao tiếp. Chính phủ cần cung cấp chính sách rõ ràng và hỗ trợ, trong khi doanh nghiệp phải áp dụng chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

Cần triển khai các chiến lược đồng bộ cho thị trường tín chỉ carbon

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gia tăng mức độ nghiêm trọng, việc giảm phát thải khí nhà kính trở thành một nhiệm vụ cấp bách đối với nhiều quốc gia. Thị trường tín chỉ carbon, với cơ chế hoạt động dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", đã nổi lên như một công cụ thiết yếu trong việc hỗ trợ các quốc gia và doanh nghiệp, đặc biệt là tại Việt Nam, đạt được các mục tiêu khí hậu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn CO2 không phát thải hoặc được loại bỏ khỏi khí quyển, và hệ thống cho phép các công ty mua bán tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Để thị trường tín chỉ carbon có thể phát triển bền vững và hiệu quả, việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược là rất quan trọng.

Hiện nay, các Chính sách của Chính phủ được xem có vai trò then chốt trong việc thiết lập và điều chỉnh thị trường tín chỉ carbon tại nước ta. Để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ, cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng. Điều này bao gồm việc thiết lập các giới hạn phát thải cụ thể cho các ngành công nghiệp, quy định chặt chẽ về báo cáo và kiểm toán lượng phát thải cũng như tín chỉ sử dụng, và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần khuyến khích sự phát triển của công nghệ sạch để các công ty có thể giảm thiểu phát thải hiệu quả hơn.

Để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần triển khai các chiến lược phát triển đồng bộ. Việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về lợi ích và cơ chế hoạt động của thị trường là cần thiết để tăng cường sự tham gia và hiểu biết. Hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng, giúp các quốc gia học hỏi từ kinh nghiệm của nhau và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Khuyến khích đổi mới bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, thị trường tín chỉ carbon cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự thiếu đồng bộ giữa các hệ thống chính sách và quy định quốc gia có thể gây khó khăn trong việc giao dịch tín chỉ xuyên biên giới. Rủi ro gian lận, chẳng hạn như báo cáo sai lệch hoặc giao dịch tín chỉ không hợp pháp, có thể làm giảm hiệu quả của hệ thống. Thêm vào đó, sự biến động giá cả tín chỉ carbon có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp và làm giảm tính ổn định của thị trường.

Để vượt qua những thách thức này, việc xây dựng cầu nối vững chắc giữa chính sách và chiến lược là điều cần thiết. Chính sách cần phải được tích hợp chặt chẽ với thực tiễn của thị trường và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời cần có sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình lập pháp. Việc áp dụng công nghệ để theo dõi, báo cáo và xác minh lượng phát thải sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và tin cậy của thị trường. Cuối cùng, việc liên tục đánh giá và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình thực tế và mục tiêu phát triển bền vững là cần thiết để đảm bảo sự thành công của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam.

Liên quan đến vấn đề này, trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon, cho rằng, để phát triển bền vững thị trường tín chỉ carbon ở nước ta, việc tạo dựng một cầu nối hiệu quả giữa chính sách và chiến lược là cực kỳ quan trọng. Cần có một khung pháp lý rõ ràng và chặt chẽ là nền tảng cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động giao dịch tín chỉ carbon. “Chính phủ cần thiết lập các quy định cụ thể về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán, cũng như các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự tin tưởng vào thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các chiến lược giảm phát thải một cách hiệu quả’, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon
Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon.

Bà Thúy khẳng định, việc nâng cao nhận thức và đào tạo cho các bên liên quan là một yếu tố không thể thiếu. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ về cơ chế hoạt động của thị trường tín chỉ carbon, lợi ích của việc giảm phát thải, cũng như cách tận dụng tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Chính phủ nên phối hợp với các tổ chức đào tạo và các hiệp hội ngành nghề để tổ chức các khóa học và hội thảo, giúp các doanh nghiệp nắm bắt thông tin và ứng dụng vào thực tiễn. Sự tham gia chủ động của các bên liên quan sẽ thúc đẩy thị trường tín chỉ carbon phát triển đồng bộ và hiệu quả hơn.

Bà thúy phân tích, việc hợp tác quốc tế và khuyến khích đổi mới công nghệ là điều kiện cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng tối đa tiềm năng của thị trường tín chỉ carbon. Các hiệp định và chương trình quốc tế có thể cung cấp cho Việt Nam những kinh nghiệm quý báu và công nghệ tiên tiến trong quản lý phát thải và giao dịch tín chỉ. Đồng thời, Chính phủ nên tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất, nhằm giảm thiểu phát thải và nâng cao hiệu quả của thị trường. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách, chiến lược và công nghệ sẽ là chìa khóa để phát triển thị trường tín chỉ carbon một cách bền vững và hiệu quả.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon Việt Nam

Thị trường tín chỉ carbon đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Được thiết lập dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", hệ thống này cho phép các quốc gia và doanh nghiệp mua bán tín chỉ carbon để cân bằng lượng phát thải của mình. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, việc tối ưu hóa hoạt động của thị trường tín chỉ carbon là một nhiệm vụ cấp bách để đạt được các mục tiêu khí hậu và phát triển bền vững.

Để thị trường tín chỉ carbon phát triển mạnh mẽ và hiệu quả, sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế là rất quan trọng. Chính phủ cần thiết lập khung pháp lý rõ ràng, công bằng và minh bạch, đồng thời áp dụng các biện pháp kiểm soát và khuyến khích công nghệ sạch. Doanh nghiệp, từ phía mình, cần chủ động triển khai các chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon một cách hiệu quả. Cộng đồng quốc tế có thể đóng vai trò hỗ trợ qua việc chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến, cũng như thiết lập các hiệp định hợp tác toàn cầu.

Việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược không chỉ giúp tăng cường tính bền vững của thị trường tín chỉ carbon mà còn góp phần vào nỗ lực bảo vệ môi trường. Một hệ thống tín chỉ carbon minh bạch và công bằng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và quốc gia tham gia, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan sẽ giúp đạt được các mục tiêu khí hậu, bảo vệ hành tinh xanh và duy trì cân bằng môi trường cho các thế hệ tương lai.

Thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam đang trên đà phát triển và dự kiến sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia. Khi Việt Nam cam kết đạt được các mục tiêu khí hậu quốc tế, thị trường tín chỉ carbon cung cấp một cơ hội quý giá để các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ cân bằng lượng khí thải và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường này, cần có một khung pháp lý rõ ràng và sự hỗ trợ đồng bộ từ các bên liên quan.

Một trong những thách thức lớn nhất mà thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam phải đối mặt là việc xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý và quy định hiệu quả. Chính phủ cần nhanh chóng thiết lập các quy định chi tiết về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán tín chỉ carbon, cũng như áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ carbon mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và các giải pháp giảm phát thải.

Đồng thời, sự hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam. Tham gia vào các hiệp định khí hậu toàn cầu và các chương trình hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Việc thúc đẩy đổi mới công nghệ và khuyến khích đầu tư vào các dự án bền vững sẽ giúp tạo ra những lợi ích dài hạn cho nền kinh tế và môi trường.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không thiếu thách thức. Sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách và chiến lược, cùng với sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, sẽ là chìa khóa để thị trường tín chỉ carbon phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào nỗ lực bảo vệ môi trường toàn cầu.

Ảnh minh họa
GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Ảnh: Internet)

Tuy nhiên, GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, lại chỉ ra rằng, sự hiểu biết về thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam hiện vẫn còn rất hạn chế.

Ông cho rằng, nếu Chính phủ chỉ đưa ra các quy định mà chưa thực sự nghiên cứu sâu về nội dung và cơ chế hoạt động của tín chỉ carbon, thì những quy định này có thể chỉ mang tính hình thức và không đạt hiệu quả thực sự.

Ông Cơ nhấn mạnh, để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần có sự hiện diện của cả người mua và người bán. Tuy nhiên, vấn đề hiện tại là chưa có một cơ chế nào rõ ràng để cấp phát tín chỉ carbon ở Việt Nam, quy định các tiêu chuẩn tín chỉ, và xác định các bên tham gia giao dịch. Điều này dẫn đến lo ngại rằng thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam có thể chỉ dừng lại ở mức hình thức, thiếu tính thực tiễn và hiệu quả.

Theo ông Cơ, sự thành công của thị trường tín chỉ carbon phụ thuộc vào việc các bên liên quan, đặc biệt, phải hiểu rõ và đầy đủ về tín chỉ carbon. Cần có một lộ trình cụ thể và các cơ chế thực thi minh bạch để tín chỉ carbon có thể phát huy tác dụng và đóng góp hiệu quả vào công cuộc giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Phan Chính

Tin bài khác
Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Phát triển năng lượng sạch đang chuyển mình mạnh mẽ từ một lĩnh vực kỹ thuật đơn thuần trở thành một trong những trụ cột chiến lược quan trọng hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam.
Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các địa phương liên quan bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường, phối hợp điều phối giữa các tỉnh, thành phố để đáp ứng nhu cầu thi công các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Các bộ, ngành được giao đôn đốc thực hiện và hoàn thiện quy định liên quan trong tháng 11/2026.
Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu khẩn trương xây dựng phương án giảm giá điện bình quân, đồng thời rà soát tính khả thi của việc đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, dự kiến áp dụng từ ngày 1/11/2026 đến hết tháng 3/2027.
Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Hơn 76% sản phẩm khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn dừng ở giai đoạn nghiên cứu, trong khi liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn hạn chế. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, dữ liệu và liên kết chuỗi giá trị, đẩy nhanh ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành nông nghiệp.
Hải quan Việt Nam – Lào tăng cường hợp tác, doanh nghiệp chờ giảm vướng mắc cửa khẩu

Hải quan Việt Nam – Lào tăng cường hợp tác, doanh nghiệp chờ giảm vướng mắc cửa khẩu

Kế hoạch hợp tác Hải quan Việt Nam – Lào năm 2027 được xây dựng trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng, nhưng doanh nghiệp vẫn đối mặt với yêu cầu về xuất xứ hàng hóa, thủ tục tại cửa khẩu và chi phí logistics. Bên cạnh phối hợp chống buôn lậu, hai bên tiếp tục trao đổi dữ liệu, nâng cao năng lực nghiệp vụ và củng cố cơ chế phối hợp từ trung ương đến địa phương.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển ESG thành lợi thế cạnh tranh

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển ESG thành lợi thế cạnh tranh

ESG đang trở thành yêu cầu cạnh tranh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Từ tiếp cận vốn xanh, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đến tiết kiệm năng lượng, doanh nghiệp cần lựa chọn lộ trình phù hợp để biến trách nhiệm môi trường, xã hội và quản trị thành giá trị kinh doanh thực chất.
Doanh nghiệp nội địa phải nâng năng suất để duy trì tăng trưởng cao

Doanh nghiệp nội địa phải nâng năng suất để duy trì tăng trưởng cao

Thu nhập người lao động tiếp tục tăng trong năm 2026, đặt ra yêu cầu nâng năng suất để duy trì thành quả lâu dài. Theo TS. Đinh Thế Hiển – Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia Hội Doanh nghiệp Tài chính và Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (FREA-HCM) thuộc HCM-SME; doanh nghiệp nội địa cần nâng năng lực tạo giá trị và tham gia hiệu quả vào chuỗi xuất khẩu, giúp tăng trưởng cải thiện đời sống người dân.
AEF 2026: Thích ứng và hợp tác để tạo động lực tăng trưởng mới

AEF 2026: Thích ứng và hợp tác để tạo động lực tăng trưởng mới

Sáng ngày 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (AEF 2026) đã khai mạc Phiên thảo luận chuyên đề cùng với trình diễn các giải pháp công nghệ mới và đổi mới sáng tạo.
TP. Hồ Chí Minh khơi thông bốn động lực, đón dòng vốn đầu tư

TP. Hồ Chí Minh khơi thông bốn động lực, đón dòng vốn đầu tư

Động lực phát triển TP. Hồ Chí Minh đang được đặt trong mối liên kết giữa hạ tầng, tài chính, năng lượng sạch và kinh tế số. Tại chương trình CEO 500 trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026, Thành phố hướng đến mục tiêu thu hút 19 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng kết nối với dòng vốn, công nghệ và thị trường quốc tế. Bài toán đặt ra là chuyển lợi thế thể chế thành dự án thực chất, giảm điểm nghẽn và nâng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việt Nam – Ba Lan nâng tầm quan hệ, mở rộng hợp tác nhiều lĩnh vực

Việt Nam – Ba Lan nâng tầm quan hệ, mở rộng hợp tác nhiều lĩnh vực

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, sáng 26/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì lễ đón trọng thể, tiến hành hội đàm và chứng kiến trao các văn kiện hợp tác giữa hai nước. Hai bên thống nhất thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, tạo động lực mới thúc đẩy hợp tác toàn diện, thực chất và hiệu quả.
TP. Hồ Chí Minh tháo điểm nghẽn đổi mới sáng tạo mở

TP. Hồ Chí Minh tháo điểm nghẽn đổi mới sáng tạo mở

Đổi mới sáng tạo mở được TP. Hồ Chí Minh đặt vào trung tâm phát triển công nghiệp thế hệ mới. Với 50 công nghệ được kết nối, 15 đơn đặt hàng và 20 thỏa thuận hợp tác, bài toán tiếp theo là thương mại hóa kết quả nghiên cứu, giúp doanh nghiệp tăng năng suất, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp.
Hải Phòng 80 năm khắc ghi lời Bác: Từ niềm tự hào lịch sử đến khát vọng vươn tầm

Hải Phòng 80 năm khắc ghi lời Bác: Từ niềm tự hào lịch sử đến khát vọng vươn tầm

Tám thập kỷ sau chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời căn dặn về tinh thần “đồng tâm hiệp lực” tiếp tục trở thành động lực để Hải Phòng phát huy sức mạnh đoàn kết, khai mở không gian phát triển và hướng tới những mục tiêu lớn trong giai đoạn mới.
TP. Hồ Chí Minh hút hơn 17,8 tỷ USD vốn FDI, tăng tốc khơi thông nguồn lực

TP. Hồ Chí Minh hút hơn 17,8 tỷ USD vốn FDI, tăng tốc khơi thông nguồn lực

Thu hút hơn 17,8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh ghi nhận mức cao kỷ lục, vượt 62% mục tiêu cả năm. Bài toán đặt ra lúc này không chỉ là giữ sức hút với nhà đầu tư quốc tế, mà còn phải tháo gỡ điểm nghẽn, đưa các dự án vào vận hành để chuyển dòng vốn đăng ký thành động lực tăng trưởng thực chất.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Hậu kiểm phải thực chất, vi phạm an toàn thực phẩm phải xử lý nghiêm

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Hậu kiểm phải thực chất, vi phạm an toàn thực phẩm phải xử lý nghiêm

Nhấn mạnh an toàn thực phẩm gắn trực tiếp với sức khỏe người dân và uy tín quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu hoàn thiện dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) theo hướng thống nhất đầu mối quản lý, tăng cường hậu kiểm đi đôi với giám sát chặt chẽ, xây dựng chế tài đủ sức răn đe và loại bỏ những hành vi cố tình vi phạm vì lợi nhuận.
Hạ tầng giao thông TP. Hồ Chí Minh trước sức ép cần nguồn vốn 1,12 triệu tỷ đồng

Hạ tầng giao thông TP. Hồ Chí Minh trước sức ép cần nguồn vốn 1,12 triệu tỷ đồng

Trước áp lực giao thông ngày càng lớn của siêu đô thị khoảng 14 triệu dân, TP. Hồ Chí Minh cần khoảng 1,12 triệu tỷ đồng đầu tư hạ tầng giao thông giai đoạn 2026–2030, trong khi ngân sách mới đáp ứng khoảng 55% nhu cầu.