Thứ ba 22/09/2026 22:25
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon

21/08/2024 16:15
Để phát triển thị trường tín chỉ carbon, Chính phủ và doanh nghiệp phải cải thiện hợp tác và giao tiếp. Chính phủ cần cung cấp chính sách rõ ràng và hỗ trợ, trong khi doanh nghiệp phải áp dụng chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

Cần triển khai các chiến lược đồng bộ cho thị trường tín chỉ carbon

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang gia tăng mức độ nghiêm trọng, việc giảm phát thải khí nhà kính trở thành một nhiệm vụ cấp bách đối với nhiều quốc gia. Thị trường tín chỉ carbon, với cơ chế hoạt động dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", đã nổi lên như một công cụ thiết yếu trong việc hỗ trợ các quốc gia và doanh nghiệp, đặc biệt là tại Việt Nam, đạt được các mục tiêu khí hậu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn CO2 không phát thải hoặc được loại bỏ khỏi khí quyển, và hệ thống cho phép các công ty mua bán tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Để thị trường tín chỉ carbon có thể phát triển bền vững và hiệu quả, việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược là rất quan trọng.

Hiện nay, các Chính sách của Chính phủ được xem có vai trò then chốt trong việc thiết lập và điều chỉnh thị trường tín chỉ carbon tại nước ta. Để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ, cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng. Điều này bao gồm việc thiết lập các giới hạn phát thải cụ thể cho các ngành công nghiệp, quy định chặt chẽ về báo cáo và kiểm toán lượng phát thải cũng như tín chỉ sử dụng, và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần khuyến khích sự phát triển của công nghệ sạch để các công ty có thể giảm thiểu phát thải hiệu quả hơn.

Để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần triển khai các chiến lược phát triển đồng bộ. Việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về lợi ích và cơ chế hoạt động của thị trường là cần thiết để tăng cường sự tham gia và hiểu biết. Hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng, giúp các quốc gia học hỏi từ kinh nghiệm của nhau và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Khuyến khích đổi mới bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, thị trường tín chỉ carbon cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự thiếu đồng bộ giữa các hệ thống chính sách và quy định quốc gia có thể gây khó khăn trong việc giao dịch tín chỉ xuyên biên giới. Rủi ro gian lận, chẳng hạn như báo cáo sai lệch hoặc giao dịch tín chỉ không hợp pháp, có thể làm giảm hiệu quả của hệ thống. Thêm vào đó, sự biến động giá cả tín chỉ carbon có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp và làm giảm tính ổn định của thị trường.

Để vượt qua những thách thức này, việc xây dựng cầu nối vững chắc giữa chính sách và chiến lược là điều cần thiết. Chính sách cần phải được tích hợp chặt chẽ với thực tiễn của thị trường và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời cần có sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình lập pháp. Việc áp dụng công nghệ để theo dõi, báo cáo và xác minh lượng phát thải sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và tin cậy của thị trường. Cuối cùng, việc liên tục đánh giá và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình thực tế và mục tiêu phát triển bền vững là cần thiết để đảm bảo sự thành công của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam.

Liên quan đến vấn đề này, trao đổi với Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập, bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon, cho rằng, để phát triển bền vững thị trường tín chỉ carbon ở nước ta, việc tạo dựng một cầu nối hiệu quả giữa chính sách và chiến lược là cực kỳ quan trọng. Cần có một khung pháp lý rõ ràng và chặt chẽ là nền tảng cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động giao dịch tín chỉ carbon. “Chính phủ cần thiết lập các quy định cụ thể về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán, cũng như các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự tin tưởng vào thị trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các chiến lược giảm phát thải một cách hiệu quả’, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon
Bà Nguyễn Thị Thúy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Viện Tín chỉ Carbon.

Bà Thúy khẳng định, việc nâng cao nhận thức và đào tạo cho các bên liên quan là một yếu tố không thể thiếu. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ về cơ chế hoạt động của thị trường tín chỉ carbon, lợi ích của việc giảm phát thải, cũng như cách tận dụng tín chỉ để cân bằng lượng khí thải của mình. Chính phủ nên phối hợp với các tổ chức đào tạo và các hiệp hội ngành nghề để tổ chức các khóa học và hội thảo, giúp các doanh nghiệp nắm bắt thông tin và ứng dụng vào thực tiễn. Sự tham gia chủ động của các bên liên quan sẽ thúc đẩy thị trường tín chỉ carbon phát triển đồng bộ và hiệu quả hơn.

Bà thúy phân tích, việc hợp tác quốc tế và khuyến khích đổi mới công nghệ là điều kiện cần thiết để Việt Nam có thể tận dụng tối đa tiềm năng của thị trường tín chỉ carbon. Các hiệp định và chương trình quốc tế có thể cung cấp cho Việt Nam những kinh nghiệm quý báu và công nghệ tiên tiến trong quản lý phát thải và giao dịch tín chỉ. Đồng thời, Chính phủ nên tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và cải tiến quy trình sản xuất, nhằm giảm thiểu phát thải và nâng cao hiệu quả của thị trường. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách, chiến lược và công nghệ sẽ là chìa khóa để phát triển thị trường tín chỉ carbon một cách bền vững và hiệu quả.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon Việt Nam

Thị trường tín chỉ carbon đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Được thiết lập dựa trên nguyên tắc "cap-and-trade", hệ thống này cho phép các quốc gia và doanh nghiệp mua bán tín chỉ carbon để cân bằng lượng phát thải của mình. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, việc tối ưu hóa hoạt động của thị trường tín chỉ carbon là một nhiệm vụ cấp bách để đạt được các mục tiêu khí hậu và phát triển bền vững.

Để thị trường tín chỉ carbon phát triển mạnh mẽ và hiệu quả, sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế là rất quan trọng. Chính phủ cần thiết lập khung pháp lý rõ ràng, công bằng và minh bạch, đồng thời áp dụng các biện pháp kiểm soát và khuyến khích công nghệ sạch. Doanh nghiệp, từ phía mình, cần chủ động triển khai các chiến lược giảm phát thải và tận dụng tín chỉ carbon một cách hiệu quả. Cộng đồng quốc tế có thể đóng vai trò hỗ trợ qua việc chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến, cũng như thiết lập các hiệp định hợp tác toàn cầu.

Việc xây dựng cầu nối giữa chính sách và chiến lược không chỉ giúp tăng cường tính bền vững của thị trường tín chỉ carbon mà còn góp phần vào nỗ lực bảo vệ môi trường. Một hệ thống tín chỉ carbon minh bạch và công bằng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và quốc gia tham gia, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan sẽ giúp đạt được các mục tiêu khí hậu, bảo vệ hành tinh xanh và duy trì cân bằng môi trường cho các thế hệ tương lai.

Thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam đang trên đà phát triển và dự kiến sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia. Khi Việt Nam cam kết đạt được các mục tiêu khí hậu quốc tế, thị trường tín chỉ carbon cung cấp một cơ hội quý giá để các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ cân bằng lượng khí thải và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường này, cần có một khung pháp lý rõ ràng và sự hỗ trợ đồng bộ từ các bên liên quan.

Một trong những thách thức lớn nhất mà thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam phải đối mặt là việc xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý và quy định hiệu quả. Chính phủ cần nhanh chóng thiết lập các quy định chi tiết về giới hạn phát thải, quy trình báo cáo và kiểm toán tín chỉ carbon, cũng như áp dụng các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm. Điều này không chỉ giúp bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong giao dịch tín chỉ carbon mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và các giải pháp giảm phát thải.

Đồng thời, sự hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam. Tham gia vào các hiệp định khí hậu toàn cầu và các chương trình hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Việc thúc đẩy đổi mới công nghệ và khuyến khích đầu tư vào các dự án bền vững sẽ giúp tạo ra những lợi ích dài hạn cho nền kinh tế và môi trường.

Tương lai của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không thiếu thách thức. Sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách và chiến lược, cùng với sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, sẽ là chìa khóa để thị trường tín chỉ carbon phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào nỗ lực bảo vệ môi trường toàn cầu.

Ảnh minh họa
GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Ảnh: Internet)

Tuy nhiên, GS. TS Hoàng Xuân Cơ, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hóa Môi trường tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, lại chỉ ra rằng, sự hiểu biết về thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam hiện vẫn còn rất hạn chế.

Ông cho rằng, nếu Chính phủ chỉ đưa ra các quy định mà chưa thực sự nghiên cứu sâu về nội dung và cơ chế hoạt động của tín chỉ carbon, thì những quy định này có thể chỉ mang tính hình thức và không đạt hiệu quả thực sự.

Ông Cơ nhấn mạnh, để thị trường tín chỉ carbon hoạt động hiệu quả, cần có sự hiện diện của cả người mua và người bán. Tuy nhiên, vấn đề hiện tại là chưa có một cơ chế nào rõ ràng để cấp phát tín chỉ carbon ở Việt Nam, quy định các tiêu chuẩn tín chỉ, và xác định các bên tham gia giao dịch. Điều này dẫn đến lo ngại rằng thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam có thể chỉ dừng lại ở mức hình thức, thiếu tính thực tiễn và hiệu quả.

Theo ông Cơ, sự thành công của thị trường tín chỉ carbon phụ thuộc vào việc các bên liên quan, đặc biệt, phải hiểu rõ và đầy đủ về tín chỉ carbon. Cần có một lộ trình cụ thể và các cơ chế thực thi minh bạch để tín chỉ carbon có thể phát huy tác dụng và đóng góp hiệu quả vào công cuộc giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Phan Chính

Thị trường carbon Việt Nam: Từ quyền phát thải đến tài sản xanh
15/09/2026 20:49

TP. Hồ Chí Minh mở rộng dư địa cho kinh tế carbon thấp
03/09/2026 16:46

Khi hãng hàng không lên núi trồng rừng, bước xuống ruộng lúa
28/07/2026 11:14

Thị trường carbon ASEAN có thể đạt doanh thu 3.000 tỷ USD vào năm 2050
10/12/2024 13:32

Bà Rịa- Vũng Tàu: Sản phẩm OCOP góp phần nâng cao cuộc sống người dân nông thôn
17/10/2024 09:09

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIV: Carboncor Asphalt - Giải pháp hiệu quả để Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0
26/08/2024 16:08

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXIII: Tạo cầu nối chính sách và chiến lược cho thị trường tín chỉ carbon
21/08/2024 16:15

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXII: Đào tạo nguồn nhân lực nhiệm vụ chiến lược cấp bách cho thị trường tín chỉ carbon
19/08/2024 09:04

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XXI: Vai trò quan trọng của các Khu Dự trữ Sinh quyển trong việc tích tụ carbon và hấp thụ CO2
11/08/2024 08:40

Ứng dụng thực tiễn của tín chỉ carbon đối với nền kinh tế. Bài XX: Thị trường tín chỉ carbon mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích đáng kể
08/08/2024 16:25

Tin bài khác
Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực cho kinh tế biển

Sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho phát triển kinh tế biển, qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực đầu tư, nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, sinh thái và quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức, vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng

UBND TP. Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Cụm công nghiệp Châu Đức tại xã Bình Giã với quy mô 32 ha và tổng vốn đầu tư hơn 405 tỷ đồng. Dự án được kỳ vọng góp phần hoàn thiện hạ tầng công nghiệp, thu hút doanh nghiệp sản xuất, đồng thời hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới sớm hoàn tất Hiệp định thương mại đối ứng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh những tiến triển tích cực trong đàm phán, hướng tới sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, tạo khuôn khổ ổn định, lâu dài cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Khơi thông “mạch máu” logistics, mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, logistics không còn đơn thuần là dịch vụ hỗ trợ mà đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thông điệp nổi bật được đưa ra tại Diễn đàn Logistics Vùng lần thứ 7 năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng.
ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

ASEAN - Nhật Bản thúc đẩy chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu

Trước những bất ổn địa chính trị, thương mại và năng lượng ngày càng gia tăng, ASEAN - Nhật Bản đang mở rộng hợp tác nhằm củng cố khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng sức chống chịu cho nền kinh tế khu vực.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có thêm cách tiếp cận vốn ngoài tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý trong Đề án hiện đại hóa hệ thống ngân hàng đến năm 2030 là định hướng mở rộng cách đánh giá doanh nghiệp khi cấp tín dụng. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn vay có thể được xem xét dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, dòng tiền và dữ liệu thanh toán, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm.
R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

R3 Lithium đến Việt Nam và bài toán làm chủ chuỗi vật liệu pin

Cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và lãnh đạo R3 Lithium mở ra câu chuyện lớn hơn về vật liệu pin và chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược. R3 Lithium cho biết doanh nghiệp quan tâm khả năng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong chuyển đổi xanh, đặc biệt ở công nghệ pin, tái chế và xử lý khoáng sản thiết yếu.
TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

TP.Hồ Chí Minh đặt yêu cầu phát huy cao hơn giá trị nguồn lực đất đai, tài chính

Tại Kỳ họp thứ 5 (Kỳ họp chuyên đề)HĐND thành phố yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực tài chính, ngân sách và đất đai được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng không gian và tạo động lực phát triển mới cho thành phố.
Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Quy mô kinh tế Việt Nam "tăng tốc", bài toán phía sau vị trí thứ hai Đông Nam Á

Việc Việt Nam được dự báo vượt mốc 2.000 tỷ USD GDP tính theo sức mua tương đương (PPP), vươn lên vị trí thứ hai Đông Nam Á và lọt nhóm 22 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy quy mô thị trường và sức nặng của nền kinh tế đang gia tăng. Tuy nhiên, phía sau cột mốc đáng chú ý ấy còn là bài toán về năng suất, thu nhập bình quân đầu người và chất lượng tăng trưởng.
Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế cần nhiều kênh vốn hơn tín dụng ngân hàng

Dư nợ tín dụng đã vượt 20 triệu tỷ đồng, nhưng nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn lớn hơn nhiều. Khi các dự án hạ tầng, đô thị và sản xuất cần nguồn vốn trung, dài hạn, nền kinh tế phải mở thêm những kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng.
UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

UEH thúc đẩy hợp tác công, đưa tri thức vào giải quyết bài toán thực tiễn

Hội nghị Kết nối đối tác khu vực công UEH 2026 cho thấy một hướng tiếp cận mới trong quan hệ giữa đại học và khu vực công: không dừng ở hợp tác, chia sẻ tri thức mà tiến tới cùng xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai và tạo ra những giá trị có khả năng ứng dụng trong thực tiễn.
Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành tăng tốc, 5 gói thầu đã vượt 90% giá trị hợp đồng

Sân bay Long Thành đang chuyển từ giai đoạn thi công sang hoàn thiện và kiểm tra đồng bộ để chuẩn bị vận hành thử từ cuối tháng 9/2026. Trong khi nhiều gói thầu đã đạt trên 90% giá trị hợp đồng, áp lực lớn nhất hiện nằm ở khả năng khớp nối nhà ga, khu bay, hạ tầng kỹ thuật và các hệ thống phục vụ khai thác.
Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Việt Nam – Hoa Kỳ: Từ mở rộng thương mại đến nâng tầm chuỗi giá trị

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục tăng mạnh, đạt khoảng 137,42 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trao đổi ngày càng lớn mở thêm dư địa hợp tác, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu hai nền kinh tế chuyển mạnh từ tăng trưởng thương mại sang hợp tác sâu hơn về công nghệ, đầu tư, năng lượng và chuỗi cung ứng.
Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính phủ mở hướng tiếp cận vốn mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định 1809/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính tăng tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam hướng tới xếp hạng tín nhiệm đầu tư”

Bộ Tài chính chuẩn bị tổ chức chương trình tiếp xúc nhà đầu tư quốc tế không kèm phát hành trái phiếu, nhằm cập nhật bức tranh kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ và quản lý nợ công. Hoạt động này cũng mở thêm kênh đối thoại với thị trường vốn toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mức xếp hạng tín nhiệm đầu tư.