Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trong khu vực này, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò nòng cốt, nhưng cũng là nhóm dễ bị tác động nhất khi thị trường thu hẹp, chi phí đầu vào tăng và dòng tiền kinh doanh thiếu ổn định.
Tuyên Quang hiện có 4.426 DNNVV, chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Quy mô lớn về số lượng cho thấy đây là lực lượng quan trọng trong tạo việc làm, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và hình thành sức sống cho nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, đặc điểm quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu hạn chế và năng lực quản trị tài chính chưa đồng đều cũng khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng.
Thực tế cho thấy khó khăn không chỉ nằm ở lãi suất. Nhiều hồ sơ vay vốn chưa chứng minh được dòng tiền trả nợ, còn nghĩa vụ thuế, phương án kinh doanh thiếu tính khả thi hoặc không có đủ tài sản bảo đảm. Với doanh nghiệp mới thành lập, rào cản còn lớn hơn do chưa có lịch sử hoạt động, doanh thu chưa ổn định và chưa hình thành được hồ sơ tín dụng đủ độ tin cậy.
Ngay cả những doanh nghiệp đã hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sửa chữa ô tô hoặc dịch vụ cũng thường xuyên cần vốn để đầu tư nhà xưởng, bổ sung thiết bị và mở rộng kinh doanh. Nếu nguồn vốn không đến đúng thời điểm, cơ hội thị trường có thể qua đi. Nhưng từ góc độ ngân hàng, nhu cầu vốn cấp thiết chưa đồng nghĩa với một khoản vay có thể kiểm soát được rủi ro.
Điểm nghẽn vì thế nằm ở khoảng cách giữa “có nhu cầu vay” và “đủ khả năng vay”. Đây không đơn thuần là câu chuyện thiếu vốn, mà còn phản ánh hạn chế trong quản trị dòng tiền, minh bạch tài chính và xây dựng phương án kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp.
![]() |
| Khách hàng được tiếp cận các chương trình vay ưu đãi cho doanh nghiệp của ngân hàng BIDV chi nhánh Tuyên Quang |
Thực hiện định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã triển khai nhiều chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp. BIDV đưa ra gói tín dụng 50.000 tỷ đồng hướng tới các động lực tăng trưởng; SHB Tuyên Quang áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9–10%/năm, tỷ lệ cho vay trên tài sản bảo đảm lên tới 80%; HDBank triển khai chương trình dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ với lãi suất từ 7,5%/năm.
Các chương trình trên cho thấy nguồn cung tín dụng đang được mở rộng và phân chia theo từng nhóm khách hàng. Tuy nhiên, lãi suất ưu đãi chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp đáp ứng được những điều kiện cơ bản về hồ sơ tài chính, khả năng trả nợ và hiệu quả của phương án sử dụng vốn.
Một chuyển động đáng chú ý là phương thức thẩm định đang từng bước được mở rộng. Thay vì chỉ nhìn vào giá trị tài sản bảo đảm, một số ngân hàng đã tăng cường đánh giá phương án kinh doanh, chuỗi giá trị và dòng tiền của doanh nghiệp; đồng thời ứng dụng công nghệ trong thẩm định, giải ngân.
Đến hết tháng 7/2026, dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp tại BIDV Tuyên Quang đạt 1.890 tỷ đồng, chiếm khoảng 35,8% tổng dư nợ. Con số này phần nào phản ánh khả năng mở rộng tín dụng khi ngân hàng có thêm công cụ đánh giá năng lực hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Dịch chuyển sang thẩm định dựa trên dòng tiền không có nghĩa là hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng. Cách tiếp cận này mở thêm cơ hội cho những doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp nhưng có đơn hàng, thị trường và phương án kinh doanh khả thi. Đồng thời, ngân hàng vẫn có cơ sở kiểm soát chất lượng khoản vay.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh Khu vực 4, hết tháng 7/2026, dư nợ tín dụng đối với DNNVV tại Tuyên Quang đạt 13.143 tỷ đồng, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng này cho thấy dòng vốn đang được hướng mạnh hơn vào khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, tăng trưởng dư nợ chưa đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều tiếp cận vốn thuận lợi. Dòng vốn thường tìm đến những doanh nghiệp có sức khỏe tài chính tốt hơn, hồ sơ minh bạch và khả năng chứng minh hiệu quả sử dụng vốn. Bởi vậy, triển vọng khơi thông tín dụng không chỉ phụ thuộc vào quy mô các gói vay mà còn gắn với năng lực hấp thụ vốn của chính doanh nghiệp.
Định hướng tăng cường đối thoại, triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026 có thể giúp hai bên nhận diện rõ hơn những vướng mắc trong quá trình vay vốn. Qua đối thoại, ngân hàng hiểu hơn mô hình kinh doanh; doanh nghiệp cũng có điều kiện hoàn thiện hồ sơ, quản trị dòng tiền và lựa chọn sản phẩm tín dụng phù hợp.
Tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu đưa thêm vốn vào khu vực kinh tế tư nhân, mà còn mở đường cho sự thay đổi trong phương thức tiếp cận. Khi năng lực doanh nghiệp được đánh giá đầy đủ hơn và dòng tiền trở thành căn cứ quan trọng trong thẩm định, tín dụng có cơ hội đến đúng những phương án khả thi, tạo nền tảng cho tăng trưởng thực chất và bền vững hơn.