| Bài liên quan |
| Chính phủ thông qua 6 chính sách lớn của Bộ luật Hàng hải và Đường thủy sửa đổi |
| Bộ Xây dựng trình dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy nhằm nâng hiệu quả vận tải |
Ngày 27/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (sửa đổi).
Trình bày tờ trình của Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang cho biết dự án Bộ luật được xây dựng nhằm thay thế Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 và Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004, trên cơ sở yêu cầu hoàn thiện pháp luật và tổ chức lại các quy định trong lĩnh vực hàng hải, đường thủy nội địa.
Dự thảo gồm 19 chương, 156 điều. So với tổng số 452 điều của hai luật hiện hành, dự thảo giảm 296 điều, tương đương khoảng 65%.
Nội dung dự thảo được sửa đổi theo hướng mở rộng và hợp nhất phạm vi điều chỉnh, bao quát cả hoạt động hàng hải và đường thủy nội địa; đồng thời cập nhật các nguyên tắc quản lý, phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, hội nhập quốc tế và tăng cường phân quyền cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực đường thủy nội địa.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang |
Báo cáo thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết ban hành Bộ luật, với những cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn được Chính phủ nêu trong tờ trình.
Tuy nhiên, tại phiên thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục đánh giá kỹ tác động của việc hợp nhất và sửa đổi hai luật hiện hành.
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến lưu ý việc dự thảo giảm tới 296 điều, tương đương 65% tổng số điều của hai luật hiện hành, có thể dẫn tới thay đổi lớn đối với hệ thống quy định đang được áp dụng.
Theo ông Đỗ Văn Chiến, không phải tất cả các quy định đang có hiệu lực đều phát sinh vướng mắc cần sửa đổi hoặc loại bỏ. Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục rà soát, đánh giá từng nhóm quy định, đồng thời lấy ý kiến đầy đủ các đối tượng chịu tác động để bảo đảm cơ sở thực tiễn và lập luận thuyết phục.
Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội cũng đặt vấn đề về nguyên nhân của những hạn chế trong lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành tương đối đầy đủ, tai nạn và nguy cơ mất an toàn vẫn diễn biến phức tạp. Vì vậy, cần làm rõ những bất cập xuất phát từ quy định pháp luật hay chủ yếu nằm ở khâu tổ chức thực hiện.
Về yêu cầu hợp nhất hai lĩnh vực, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh đề nghị dự thảo phải hướng tới việc kết nối thực chất chuỗi vận tải sông - biển, thay vì chỉ hợp nhất về mặt kỹ thuật lập pháp.
Những chế định đã tương đối ổn định, có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự, thương mại, tín dụng cũng như việc thực hiện các công ước quốc tế cần được nghiên cứu quy định đầy đủ ngay trong Bộ luật.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh, không nên rút gọn các quy định quá mức rồi giao Chính phủ quy định chi tiết đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, bởi điều này có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch và khả năng dự báo của pháp luật.
Liên quan các chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển công nghiệp tàu thủy, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị dự thảo làm rõ mục tiêu, đối tượng và nguyên tắc hỗ trợ. Các tiêu chí, điều kiện và mức hỗ trợ cần được quy định cụ thể, đồng bộ với pháp luật về đất đai, thuế, phí, ngân sách nhà nước và tín dụng.
Đồng thời, những nội dung cần điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn có thể giao Chính phủ quy định theo thẩm quyền, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực.
Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, kế thừa các quy định ổn định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam và Luật Giao thông đường thủy nội địa hiện hành.
Đặc biệt, cần giữ lại những quy định liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đã được thực hiện ổn định và không phát sinh vướng mắc. Việc hợp nhất và sửa đổi phải bảo đảm hình thành một bộ luật mới đồng bộ, khả thi, không tạo khoảng trống pháp lý và không “hạ cấp” những quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội thành quy định thuộc thẩm quyền của Chính phủ.