Gỡ điểm nghẽn công nghệ, nâng giá trị đặc sản vùng cao
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây là cơ sở để thúc đẩy đổi mới trong sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối và phát triển thị trường cho các sản phẩm đặc sản.
Thông tin tại tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 21/9, các chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã đã chia sẻ những điểm nghẽn cũng như giải pháp đưa công nghệ vào chuỗi giá trị sản phẩm vùng cao.
![]() |
| Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” |
Theo ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp, điểm nghẽn không chỉ là thiếu máy móc mà còn nằm ở việc thiếu hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện từng vùng.
Nhiều nơi vẫn sản xuất phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa, chất lượng nguyên liệu chưa ổn định. Sau thu hoạch, tổn thất còn cao do thiếu công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến phù hợp. Dữ liệu về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng kết nối thị trường cũng còn hạn chế. Vì vậy, một số sản vật dù có chất lượng và giá trị văn hóa vẫn chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, sản lượng chưa ổn định và khó tạo giá trị gia tăng cao.
Ở khâu thị trường, ông Bùi Quang Cường, Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, cho biết mức độ ứng dụng thương mại điện tử và công cụ số giữa các chủ thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn không đồng đều. Theo ông Cường, công nghệ số có thể giúp thu hẹp khoảng cách địa lý, đưa sản phẩm vùng núi tiếp cận người tiêu dùng trên toàn quốc, thậm chí thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, kinh doanh trực tuyến ngày càng đòi hỏi kỹ năng, quy trình bài bản và năng lực cạnh tranh chuyên nghiệp hơn.
Thực tế tại Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm, tỉnh Phú Thọ, cho thấy nhu cầu đổi mới xuất phát trực tiếp từ những vấn đề của sản xuất. Bà Trần Thị Thúy, Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm, cho biết với vùng trồng 30 ha thanh long ruột đỏ, hợp tác xã gặp tình trạng được mùa rớt giá, thời gian bảo quản quả tươi ngắn và khó vận chuyển xa.
Từ thực tế đó, hợp tác xã nghiên cứu chế biến thanh long thành mì gạo thanh long, đồng thời đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp nhằm nâng năng suất và giảm nhân công. Bên cạnh công nghệ sản xuất, hợp tác xã tiếp tục hoàn thiện năng lực về công nghệ số, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu của những thị trường có tiêu chuẩn cao.
Gắn công nghệ với thị trường, mở rộng đầu ra
Các chuyên gia tại tọa đàm cho rằng công nghệ cần được lựa chọn theo đúng điểm nghẽn của sản phẩm và địa phương, thay vì chạy theo máy móc hiện đại. Bốn hướng được nhấn mạnh gồm chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất; cơ giới hóa, giám sát chất lượng; đầu tư sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến sâu; số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn hóa sản phẩm.
Quá trình chuyển giao cũng cần gắn với đào tạo, thử nghiệm, đo lường, bảo trì và hình thành lực lượng kỹ thuật tại chỗ. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi phù hợp điều kiện thực tế và tạo ra hiệu quả kinh tế có thể đo lường.
![]() |
| Nghị quyết 57: Công nghệ mở hướng nâng giá trị đặc sản vùng cao |
Từ thực tiễn Lộc Thúy Quỳnh Farm, bà Trần Thị Thúy cho biết việc ứng dụng dây chuyền sản xuất công nghiệp để chế biến mì gạo thanh long giúp sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, thuận lợi cho vận chuyển và phân phối, đồng thời mở ra hướng tham gia các chuỗi phân phối và xuất khẩu. Hợp tác xã cho biết đã ký với một đối tác Trung Quốc và sẵn sàng đưa sản phẩm vào chuỗi siêu thị của Hà Lan. Trường hợp này cho thấy đổi mới công nghệ ở khâu sản xuất cần được kết nối với yêu cầu thị trường ngay từ đầu, thay vì chỉ tập trung nâng công suất hoặc tạo ra sản phẩm mới.
Cùng với công nghệ sản xuất, thương mại điện tử đang mở rộng không gian thị trường cho đặc sản vùng cao. Theo ông Bùi Quang Cường, sản phẩm tốt thôi chưa đủ. Chủ thể sản xuất cần quan tâm đồng bộ đến bao bì, nhãn mác, câu chuyện sản phẩm, khách hàng mục tiêu, kênh bán hàng, định giá, nội dung, logistics, thanh toán và chăm sóc khách hàng.
Trong đó, truy xuất nguồn gốc và thông tin minh bạch ngày càng quan trọng. Việc xác định đúng nhóm khách hàng cũng giúp chủ thể điều chỉnh sản phẩm, bao bì và thông điệp phù hợp, qua đó gia tăng giá trị thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Từ góc độ hệ sinh thái, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam xác định cần kết nối nền tảng, logistics, thanh toán, đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất không phải tự xoay xở từng khâu. Thời gian tới, Hiệp hội sẽ triển khai các hoạt động nâng cao kỹ năng số và phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phối hợp với cơ quan quản lý, địa phương, trường đại học và các đơn vị liên quan để đào tạo, hỗ trợ chủ thể bán hàng chuyên nghiệp hơn; đồng thời đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới.
Các chuyên gia cũng cho rằng, việc ứng dụng tinh thần Nghị quyết 57 đối với sản phẩm vùng cao cần được triển khai trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, bảo quản, kiểm soát chất lượng đến truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử. Khi công nghệ phù hợp gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đặc sản vùng cao có thêm điều kiện nâng năng suất, ổn định chất lượng, gia tăng giá trị và mở rộng đầu ra, qua đó góp phần cải thiện thu nhập và xây dựng sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.