Thứ năm 17/09/2026 19:41
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Mở lối làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao Việt Nam

Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao, mở ra cơ hội nội địa hóa, giảm phụ thuộc nhập khẩu và hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt.
Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam sẵn sàng khởi công trước 2027 Khi hạ tầng giao thông bước sang trang sử mới với hai dự án lớn

Việc từng bước làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao đang trở thành một trong những hướng đi quan trọng trong chiến lược phát triển hạ tầng và công nghiệp của Việt Nam. Trong bối cảnh các dự án đường sắt quy mô lớn chuẩn bị triển khai, yêu cầu về nguồn cung vật tư kỹ thuật cao, đặc biệt là ray và các cấu kiện liên quan, ngày càng trở nên cấp thiết.

Theo báo cáo thẩm định của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhiệm vụ “Nghiên cứu phát triển các kết cấu đường ray cho đường sắt tốc độ cao Việt Nam” đã hoàn tất bước đánh giá chuyên môn, tạo tiền đề để Bộ Xây dựng tiếp tục hoàn thiện và phê duyệt theo thẩm quyền. Đây được xem là dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước khởi đầu trong lộ trình làm chủ công nghệ sản xuất một trong những sản phẩm phức tạp nhất của ngành đường sắt.

Mở lối làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao Việt Nam
Mở lối làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao Việt Nam

Nền tảng cho tự chủ công nghệ và giảm phụ thuộc nhập khẩu

Trong nhiều năm qua, Việt Nam gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung ray đường sắt từ nước ngoài, đặc biệt là đối với các loại ray có yêu cầu kỹ thuật cao phục vụ đường sắt tốc độ cao. Điều này không chỉ làm gia tăng chi phí đầu tư mà còn tiềm ẩn rủi ro về chuỗi cung ứng, nhất là trong bối cảnh các dự án hạ tầng lớn cần triển khai đồng loạt.

Theo tính toán trong hồ sơ nhiệm vụ, riêng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với chiều dài khoảng 1.541 km, nếu đầu tư theo tiêu chuẩn đường đôi, tổng nhu cầu ray có thể lên tới khoảng 6.164 km, tương đương 380.000 - 400.000 tấn thép ray. Quy mô thị trường này đủ lớn để tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật tư đường sắt, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu.

Điểm đáng chú ý của nhiệm vụ là cách tiếp cận nghiên cứu đồng bộ, từ tiêu chuẩn mác thép, quy trình sản xuất đến công nghệ kiểm tra, thử nghiệm và đánh giá chất lượng. Điều này không chỉ nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn hướng tới xây dựng năng lực tự chủ toàn diện trong chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, các tiêu chí mới theo Nghị định 260/2026/NĐ-CP cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nhiệm vụ công nghệ chiến lược, bao gồm tỷ lệ nội địa hóa, mức độ làm chủ công nghệ và khả năng thương mại hóa sản phẩm. Điều này đồng nghĩa với việc các sản phẩm nghiên cứu không chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm mà phải hướng tới ứng dụng thực tế và có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đáng chú ý, yêu cầu về sở hữu trí tuệ cũng được đặt ra, với điều kiện phải có ít nhất một đối tượng được bảo hộ. Đây là bước đi nhằm đảm bảo giá trị gia tăng của hoạt động nghiên cứu được giữ lại trong nước, đồng thời nâng cao vị thế công nghệ của Việt Nam trong lĩnh vực đường sắt.

Hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt trong nước

Không chỉ dừng lại ở mục tiêu tự chủ công nghệ, nhiệm vụ phát triển kết cấu đường ray còn được kỳ vọng tạo động lực lan tỏa cho nhiều ngành công nghiệp liên quan. Từ luyện kim, cơ khí chế tạo đến vật liệu và công nghệ kiểm định, toàn bộ chuỗi giá trị có thể được kích hoạt và phát triển đồng bộ.

Hiện nay, Việt Nam đã có những nền tảng nhất định trong các lĩnh vực này. Một số đơn vị nghiên cứu đã làm chủ công nghệ chế tạo vật liệu kim loại đặc chủng, trong khi các doanh nghiệp lớn đã đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại và hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ kiểm tra chất lượng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để triển khai nhiệm vụ ở quy mô lớn, thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu lý thuyết.

Đặc biệt, sự tham gia của khu vực doanh nghiệp được xem là yếu tố then chốt. Cơ chế thực hiện nhiệm vụ nhấn mạnh việc đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ, đồng thời áp dụng các chính sách khuyến khích mạnh mẽ để thu hút đầu tư. Việc kết hợp giữa nguồn lực nhà nước và khu vực tư nhân không chỉ giúp tối ưu chi phí mà còn tăng khả năng thương mại hóa sản phẩm.

Bên cạnh đó, cơ chế tài chính đặc thù gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát cũng được đề xuất nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu phát triển. Đây là cách tiếp cận phù hợp với đặc thù của các dự án công nghệ cao, nơi mà kết quả không phải lúc nào cũng có thể dự đoán trước.

Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả, các cơ quan quản lý cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt chẽ về kỹ thuật và tính thực tiễn của sản phẩm. Ray đường sắt tốc độ cao là sản phẩm có yêu cầu khắt khe về độ bền, khả năng chịu lực và an toàn khai thác, do đó toàn bộ quy trình từ thiết kế, sản xuất đến kiểm định phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt.

Ngoài ra, nhiệm vụ còn được yêu cầu đánh giá đầy đủ các tác động kinh tế - xã hội, môi trường và quốc phòng - an ninh. Đáng chú ý, khả năng lưỡng dụng của công nghệ, tức vừa phục vụ phát triển kinh tế vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng, cũng được xem là một tiêu chí quan trọng.

Việc làm chủ công nghệ sản xuất ray đường sắt tốc độ cao không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn là bước đi chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa. Nếu triển khai thành công, Việt Nam không chỉ giảm phụ thuộc vào nhập khẩu mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thậm chí hướng tới xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong tương lai.

Tin bài khác
Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa tăng trưởng tích cực, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Thị trường nội địa đang phục hồi tích cực nhưng cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về phân phối, logistics và sức cạnh tranh để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

TP. Hồ Chí Minh xác lập đầu mối mới cho kinh tế tập thể

Điều lệ mới xác lập cơ chế tổ chức và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã TP. Hồ Chí Minh sau hợp nhất, đồng thời mở rộng không gian hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn Thành phố.
Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Đồng bằng sông Cửu Long tháo gỡ ba nút thắt giao thông, vật liệu và năng lượng

Từ cao tốc, nguồn vật liệu đến các dự án nhiệt điện và chuỗi khí Lô B - Ô Môn, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu tăng tốc đồng loạt để không làm chậm nhịp phát triển hạ tầng và năng lượng của vùng.
Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Tiết kiệm năng lượng: Bài toán chi phí trở thành động lực chuyển đổi xanh

Từ giảm chi phí sản xuất đến đổi mới công nghệ và giảm phát thải, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đang mở ra hướng đi mới cho doanh nghiệp công nghiệp. Những giải pháp biến chủ trương thành hành động thực tế được Bộ Công Thương đưa ra trao đổi tại Hải Phòng ngày 16/9.
TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

TP. Hồ Chí Minh: FDI vượt 10 tỷ USD, cắt 42% dự án đầu tư công để dồn vốn cho hạ tầng

8 tháng đầu năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút gần 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 57,7% kế hoạch, cao hơn bình quân chung cả nước. Thành phố cũng quyết định cắt giảm 42% số lượng dự án đầu tư công giai đoạn 2026-2030 để tập trung nguồn lực cho hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư theo phương thức PPP.
TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

TP. Hồ Chí Minh quy hoạch 8 tuyến đường sắt, cần 544.231 tỷ đồng

Cục Đường sắt Việt Nam đề xuất quy hoạch hệ thống đường sắt khu vực đầu mối TP. Hồ Chí Minh gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 508 km và 4 ga đầu mối. Tổng nhu cầu vốn dự kiến 544.231 tỷ đồng, trong đó giai đoạn đến năm 2030 cần 92.673 tỷ đồng.
Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Lâm Đồng giải bài toán 1,1 triệu tỷ đồng và cực tăng trưởng kết nối ba vùng

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn định hình một cấu trúc kinh tế mới, kết nối cao nguyên, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển.
Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Việt Nam cùng Vương quốc Anh kiến tạo Trung tâm Tài chính Quốc tế

Trong lộ trình vươn mình trở thành đầu mối khơi thông nguồn lực tài chính cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cuộc gặp gỡ sáng 15/9/2026 giữa Lãnh đạo UBND TP. Hồ Chí Minh và Thị trưởng Trung tâm Tài chính London (Vương quốc Anh) đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt. Không chỉ dừng lại ở những trao đổi ngoại giao mang tính nguyên tắc, hai bên đã cùng đặt lên bàn đàm phán những bài toán hạ tầng cụ thể, tạo dựng một thế đối xứng chiến lược để đưa Trung tâm tài chính quốc tế TP. TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) tăng tốc hội nhập toàn cầu.
Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Hải Phòng tăng đối thoại, tháo gỡ vướng mắc thuế cho doanh nghiệp FDI

Việc cập nhật chính sách, giải đáp trực tiếp các vấn đề về thuế không chỉ giúp doanh nghiệp FDI thực hiện đúng nghĩa vụ, mà còn góp phần giảm chi phí tuân thủ, củng cố niềm tin và tạo nền tảng cho hoạt động đầu tư ổn định, lâu dài tại Hải Phòng.
Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Nâng cấp quan hệ Việt Nam - Slovakia, doanh nghiệp đón thêm cơ hội tại châu Âu

Việc Việt Nam - Slovakia chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược đang tạo thêm nền tảng để hai nước mở rộng hợp tác kinh tế, công nghệ, năng lượng và quốc phòng, đồng thời thúc đẩy kết nối doanh nghiệp và đưa các lĩnh vực mới như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào chương trình hợp tác song phương.
Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Việt Nam sẵn sàng cùng BRICS kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 mở ra những đổi mới động lực tăng trưởng, khoa học - công nghệ và phát triển bền vững.
Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Thiếu điện tăng dần đến năm 2030, Bộ Công Thương muốn sửa Quy hoạch điện VIII

Bộ Công Thương dự báo hệ thống điện có thể thiếu 13.964 MW công suất cực đại và 61,18 tỷ kWh sản lượng vào năm 2030, trong kịch bản các dự án nguồn điện tiếp tục chậm tiến độ. Bộ đề xuất triển khai các giải pháp cấp bách, đồng thời điều chỉnh Quy hoạch điện VIII để bảo đảm cung ứng điện.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng: Kiểm soát giá, ngăn đầu cơ và tăng giá bất hợp lý

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động kiểm soát lạm phát, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu và xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá trong những tháng cuối năm 2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 3 hướng thúc đẩy BRICS tăng trưởng bao trùm

Phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 3 định hướng lớn nhằm nâng cao sức chống chịu của các nền kinh tế, kiến tạo động lực tăng trưởng mới và chuyển các cơ hội hợp tác khoa học - công nghệ thành những chương trình, dự án cụ thể.
Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Việt Nam mở thêm cơ hội hút vốn quốc tế vào hạ tầng hàng không

Trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi, Việt Nam thúc đẩy hợp tác với GMR, hướng tới các dự án sân bay, đô thị sân bay và công nghệ hàng không.