Quá tải sân bay Đà Nẵng: Đã đến lúc “chia lửa” cho Chu Lai
Việc UBND thành phố Đà Nẵng ngày 24-3 có văn bản đề nghị các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trước tình trạng quá tải tại sân bay quốc tế Đà Nẵng do lượng khách liên tục gia tăng cho Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng một lần nữa đặt ra câu hỏi lớn về năng lực hạ tầng hàng không của đô thị trung tâm miền Trung.
![]() |
| Trong nhiều năm qua, Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng luôn được xem là cửa ngõ hàng không quan trọng nhất của miền Trung. Tuy nhiên, khi lượng khách quốc tế tăng trưởng mạnh và hạ tầng hiện hữu dần chạm ngưỡng công suất, bài toán đặc ra không thể chỉ vá víu hạ tầng |
Trong bối cảnh đó, việc tính đến phương án “chia lửa” bằng cách từng bước chuyển chức năng khai thác quốc tế sang Cảng hàng không Chu Lai không chỉ là giải pháp giảm tải trước mắt, mà có thể là bước đi cần thiết để tái cấu trúc hệ thống hàng không miền Trung trong dài hạn.
Theo báo cáo, năm 2025 nhà ga T1 phục vụ khoảng 7,5 triệu hành khách, vượt xa công suất thiết kế 6 triệu. Nhà ga T2 phục vụ khoảng 6,8 triệu khách, trong khi công suất thiết kế chỉ 4 triệu. Trung bình mỗi ngày sân bay khai thác từ 130 đến 170 chuyến bay, trong đó có 60–70 chuyến quốc tế.
Đáng chú ý, các chuyến bay quốc tế thường tập trung vào những khung giờ cao điểm như trưa và ban đêm, tạo áp lực lớn lên toàn bộ hệ thống vận hành, từ khu vực check-in, soi chiếu an ninh đến các quầy thủ tục xuất nhập cảnh.
![]() |
| Trước tình trạng lượng khách liên tục gia tăng, ngày 24-3 UBND TP.Đà Nẵng đã gửi công văn đề nghị các bộ ngành huy động lực lượng tháo gỡ tình trạng quá tải tại sân bay quốc tế Đà Nẵng |
Những giải pháp mà thành phố kiến nghị như tăng nhân lực, mở rộng hệ thống autogate, cải tiến quy trình vận hành hay đẩy nhanh tiến độ mở rộng nhà ga đều cần thiết trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về bản chất, đây vẫn chỉ là những biện pháp “giảm áp” tạm thời cho một hệ thống đã chạm trần công suất.
Trong bối cảnh lượng khách quốc tế đến miền Trung tăng trưởng bình quân 20–30% mỗi năm, việc tiếp tục cơi nới sân bay hiện hữu khó có thể theo kịp tốc độ phát triển của thị trường.
Thực tế cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất của sân bay Đà Nẵng không nằm ở công nghệ vận hành, mà nằm ở vị trí địa lý đặc biệt của nó. Sân bay nằm ngay trong lõi đô thị, bị bao quanh bởi khu dân cư dày đặc, khiến dư địa mở rộng hạ tầng gần như không còn.
Mọi phương án nâng cấp đường băng, mở rộng sân đỗ hay xây dựng thêm nhà ga đều vấp phải hai rào cản lớn: quỹ đất hạn chế và chi phí giải phóng mặt bằng rất cao. Không chỉ tốn kém, quá trình này còn kéo theo những xáo trộn đáng kể đối với cấu trúc đô thị và đời sống cư dân.
![]() |
| Một đô thị đặt mục tiêu trở thành trung tâm du lịch, trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do thông minh đầu tiên tại Việt Nam, thì không thể chỉ giải quyết các điểm nghẽn hạ tầng bằng những giải pháp ngắn hạn. |
Bên cạnh đó, sân bay nằm giữa thành phố cũng khiến áp lực giao thông gia tăng mỗi khi có cao điểm bay quốc tế. Tình trạng ùn tắc không chỉ xảy ra trong nhà ga mà còn lan ra các trục đường xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của người dân cũng như trải nghiệm của du khách.
Một đô thị đặt mục tiêu trở thành trung tâm du lịch và trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do thông minh đầu tiên tại Việt Nam, thì không thể chỉ giải quyết các điểm nghẽn hạ tầng bằng những giải pháp ngắn hạn. Những quyết sách mang tính chiến lược, thậm chí mang tính tái cấu trúc, là điều không thể tránh khỏi.
Nếu chỉ tiếp tục xử lý theo kiểu “vá víu” từng phần, Đà Nẵng có nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn: quá tải – nâng cấp – rồi lại quá tải.
Từ quá tải sân bay Đà Nẵng đến bài toán phát triển Chu Lai
Đã đến lúc cần một cách tiếp cận mang tính cấu trúc hơn: xây dựng mô hình “sân bay kép”, trong đó từng bước chuyển chức năng khai thác quốc tế sang Cảng hàng không Chu Lai.
Thực tế cho thấy, trên thế giới, nhiều đô thị lớn đã lựa chọn mô hình này như một giải pháp chiến lược để giải quyết bài toán quá tải hạ tầng hàng không.
Tại Tokyo, Sân bay Haneda chủ yếu phục vụ nội địa và một phần quốc tế, trong khi Sân bay Narita đảm nhiệm phần lớn các chuyến bay quốc tế đường dài.
Tương tự, tại Seoul, Sân bay Gimpo phục vụ nội địa và các đường bay ngắn, còn Sân bay Incheon được xây dựng như một trung tâm trung chuyển quốc tế quy mô lớn.
Những mô hình này cho thấy việc phân tách chức năng giữa các sân bay không chỉ giúp giảm tải hạ tầng mà còn nâng cao hiệu quả khai thác của toàn bộ hệ thống hàng không.
![]() |
| Đã đến lúc cần một cách tiếp cận mang tính cấu trúc hơn: xây dựng mô hình “sân bay kép”, trong đó từng bước chuyển chức năng khai thác quốc tế sang Cảng hàng không Chu Lai. |
Trong bối cảnh Đà Nẵng nói riêng, miền Trung Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến du lịch quốc tế quan trọng, việc hình thành một trung tâm hàng không mới tại Chu Lai không chỉ là phương án kỹ thuật, mà còn là một lựa chọn mang ý nghĩa chiến lược.
Lợi thế lớn nhất của Chu Lai nằm ở quỹ đất phát triển. Không giống sân bay Đà Nẵng bị bao quanh bởi đô thị, khu vực này có không gian rộng lớn để quy hoạch một tổ hợp hàng không – logistics hiện đại với tầm nhìn dài hạn.
Bên cạnh đó, hạ tầng kết nối vùng đang ngày càng hoàn thiện. Tuyến Cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi cùng hệ thống đường ven biển quốc gia, đặc biệt mới đây thành phố đã quy hoạch tuyến đường cao tốc nội thị kết nối trung tâm TP. Đà Nẵng – Chu Lai đã tạo nền tảng giao thông tương đối thuận lợi giữa hai địa điểm.
Trong tương lai, nếu các dự án vận tải tốc độ cao như đường sắt cao tốc Bắc – Nam hoặc các tuyến tàu điện liên vùng được triển khai, thời gian di chuyển giữa trung tâm Đà Nẵng và Chu Lai hoàn toàn có thể rút ngắn xuống mức phù hợp đối với hành khách quốc tế.
Quan trọng hơn, việc tính toán chuyển dần chức năng khai thác quốc tế từ Đà Nẵng về Chu Lai có thể chính là bước đi cần thiết để mở ra một giai đoạn phát triển mới nhằm giải quyết bài toán quá tải của Đà Nẵng, mà còn mở ra một không gian phát triển kinh tế mới cho toàn vùng.
Một trung tâm hàng không quy mô lớn sẽ kéo theo sự phát triển của logistics, công nghiệp phụ trợ, đô thị sân bay, thương mại dịch vụ và du lịch, qua đó tạo động lực tăng trưởng cho khu vực phía nam Đà Nẵng, đồng thời góp phần tái cân bằng cấu trúc phát triển của vùng duyên hải miền Trung.