![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 9/3/2026: Thị trường đi ngang, chưa có sự đột phá mới. |
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.000 - 6.100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa OM 4218 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Bên cạnh đó, thị trường nếp không ghi nhận biến động mới, ổn định so với ngày hôm qua 8/3.
| Giống nếp | Giá (đồng/ kg) |
| Nếp IR 4625 (tươi) | 7.300 - 7.500 |
| Nếp IR 4625 (khô) | 9.500 - 9.700 |
| Nếp 3 tháng (tươi) | 6.200 - 6.500 |
| Nếp 3 tháng (khô) | 9.600 - 9.700 |
| Nếp Long An | 7.100 – 7.400 |
Giá gạo trong nước
Theo khảo sát mới nhất cho thấy giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tương đối ổn định, giao dịch mua bán ít.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện giá gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.900 - 8.010 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường trầm lắng, giá gạo các loại đi ngang.
Tại An Giang, gạo vắng lượng về, các kho lớn ít mua, giá tương đối ổn định. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng về ít, giao dịch mua bán lai rai, gạo các loại ít biến động. Tại An Cư - Đồng Tháp, kho lớn mua chậm, lựa gạo, gạo các loại bình giá.
Trên thị trường gạo, tại các chợ lẻ giá gạo đứng giá, ghi nhận không có sự điều chỉnh với các mặt hàng gạo lẻ so với ngày hôm qua. Hôm nay, gạo Nàng Nhen vẫn tiếp tục có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 14.000 đồng/kg.
| Giống gạo | Giá (đồng/ kg) |
| Nàng Nhen | 28.000 |
| Gạo Trắng | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Thường | 12.000 – 13.000 |
| Gạo Thơm | 17.000 - 22.000 |
| Gạo thơm Jasmine | 14.000 – 15.000 |
| Gạo Nàng Hoa | 21.000 |
| Gạo Tẻ thường | 13.000 - 14.000 |
| Gạo Thơm Thái hạt dài | 20.000 - 22.000 |
| Gạo Hương Lài | 22.000 |
| Gạo Thơm Đài Loan | 20.000 |
| Gạo Nhật | 22.000 |
| Gạo Sóc thường | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Sóc Thái | 20.000 |
Mặt hàng phụ phẩm
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.500 – 8.100 đồng/kg. Hiện tấm IR 504 ổn định ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 7.900 – 8.100 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua.
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 430 - 434 USD/tấn.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2/2026 ước đạt 640 nghìn tấn, với giá trị 289,4 triệu USD.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 464,1 USD/tấn, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước.
Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 47,6% thị phần. Trung Quốc và Ghana là hai thị trường lớn tiếp theo, với thị phần lần lượt 18,3% và 8,9%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo tháng 1/2026 sang thị trường Philippines tăng 17,6%, sang Trung Quốc tăng 5,8 lần, trong khi xuất khẩu sang Ghana giảm 31%.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất tại thị trường Trung Quốc (gấp 5,8 lần) và giảm mạnh nhất tại thị trường Bờ Biển Ngà (giảm 90,9%).