![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 23/3/2026: Lúa tươi giảm, gạo bình ổn. |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giá lúa đồng loạt giảm từ 100 – 500 đồng/kg; thị trường tiếp tục giao dịch yếu, chưa sôi động.
Bảng giá lúa hôm nay 23/3/2026 tại một số tỉnh khu vực ĐBSCL
| Giống lúa | Giá (đồng/ kg) |
| OM 18 (tươi) | 5.600 – 5.900 |
| Đài Thơm 8 (tươi) | 5.600 – 5.900 |
| OM 380 (tươi) | 5.000 – 5.300 |
| OM 4218 (tươi) | 6.000 – 6.200 |
| IR 50404 (tươi) | 5.000 - 5.300 |
| OM 34 (tươi) | 5.100 – 5.300 |
| OM 5451 (tươi) | 5.400 – 5.700 |
| Nàng Hoa 9 (tươi) | 5.700 - 6.000 |
| OM 504 (tươi) | 5.100 - 5.300 |
| Jasmine (tươi) | 6.200 – 6.500 |
| Lúa Nhật (tươi) | 6.300 – 6.600 |
| ST24-ST25 (thường) | 6.400 – 6.700 |
| RVT (tươi) | 6.200 – 6.500 |
| Japonica | 6.200 – 6.500 |
| Hàm Châu 105 | 5.600 – 5.900 |
Bên cạnh đó, thị trường nếp ít ghi nhận biến động mới, riêng chỉ có giá nếp 3 tháng tươi giảm nhẹ 100 đồng so với ngày hôm qua 22/3.
| Giống nếp | Giá (đồng/ kg) |
| Nếp IR 4625 (tươi) | 7.300 - 7.500 |
| Nếp IR 4625 (khô) | 9.500 - 9.700 |
| Nếp 3 tháng (tươi) | 5.800 - 6.000 |
| Nếp 3 tháng (khô) | 9.600 - 9.700 |
| Nếp Long An | 6.300 – 6.600 |
Theo khảo sát mới nhất cho thấy giá gạo nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tương đối ổn định, giao dịch mua bán trầm lắng.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.250 - 8.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.800 - 7.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.150 - 9.350 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg, so với hôm qua.
| Loại gạo | Giá (đồng/kg) |
| Gạo nguyên liệu OM 5451 | 8.250 – 8.350 |
| Gạo nguyên liệu Sóc thơm | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu IR 504 | 8.000 – 8.100 |
| Gạo nguyên liệu OM 5451 | 8.100 – 8.300 |
| Gạo nguyên liệu CL 555 | 7.800 - 7.900 |
| Gạo nguyên liệu OM 18 | 8.900 – 9.100 |
| Gạo nguyên liệu OM 380 | 7.500 - 7.600 |
| Gạo nguyên liệu Đài thơm 8 | 9.150 – 9.350 |
| Gạo thành phẩm IR 504 | 9.500 – 9.700 |
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thị trường trầm lắng, giá gạo các loại đi ngang. Tại An Giang, kho mua mua chậm, giá gạo bình ổn; riêng phụ phẩm có xu hướng giảm do nguồn cung nhiều. Tại khu vực Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), các bến gạo về lượng ít, đa số các kho mua chậm, gạo các loại tương đối ổn định.
Trên thị trường gạo, tại các chợ lẻ giá gạo đứng giá, ghi nhận không có sự điều chỉnh so với ngày hôm qua. Hôm nay, gạo Nàng Nhen vẫn tiếp tục có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 14.000 đồng/kg.
| Giống gạo | Giá (đồng/ kg) |
| Nàng Nhen | 28.000 |
| Gạo Trắng | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Thường | 12.000 – 14.000 |
| Gạo Thơm | 17.000 - 22.000 |
| Gạo thơm Jasmine | 13.000 – 14.000 |
| Gạo Nàng Hoa | 21.000 |
| Gạo Tẻ thường | 13.000 - 14.000 |
| Gạo Thơm Thái hạt dài | 20.000 - 22.000 |
| Gạo Hương Lài | 22.000 |
| Gạo Thơm Đài Loan | 20.000 |
| Gạo Nhật | 22.000 |
| Gạo Sóc thường | 16.000 - 17.000 |
| Gạo Sóc Thái | 20.000 |
Mặt hàng phụ phẩm
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.500 - 11.500 đồng/kg. Hiện tấm thơm 504 dao động ở mức 7.500 - 7.650 đồng/kg; giá cám khô dao động ở mức 10.500 - 11.500 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam duy trì ổn định. Theo đó, gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được chào bán ở mức 430 - 434 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm đạt 400 - 415 USD/tấn, loại 100% từ 316 - 320 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của nước này đang có mức 376 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm Ấn Độ dao động trong khoảng 345 - 349 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm có giá 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan hiện đang được giao dịch ở mức 347 - 351 USD/tấn.
Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong hai tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn gạo, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt xấp xỉ 600 triệu USD, giảm hơn 11%. Nguyên nhân giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh xuống còn khoảng 460-465 USD/tấn, thấp hơn hơn 15% so với cùng kỳ.
Diễn biến này phản ánh rõ một chu kỳ điều chỉnh của thị trường sau giai đoạn tăng nóng kéo dài từ năm 2024 sang 2025. Khi nguồn cung toàn cầu dần được khôi phục, đặc biệt từ Ấn Độ, Thái Lan và Pakistan, mặt bằng giá gạo thế giới nhanh chóng hạ nhiệt. Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu lớn như Philippines, Indonesia hay một số nước châu Phi chuyển sang chiến lược “mua chậm, chờ giá”, thay vì tích trữ ồ ạt như trước.
Dữ liệu hai tháng đầu năm cũng cho thấy, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, nhập khẩu khoảng 620.000 tấn, chiếm gần 48% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy vậy, ở chiều ngược lại, nhiều thị trường truyền thống suy giảm mạnh như xuất sang Ghana giảm khoảng 31%, Bờ Biển Ngà giảm tới trên 90%. Đáng chú ý, Indonesia từng là thị trường lớn trong năm 2024-2025, song trong năm nay gần như chững lại do theo đuổi chiến lược tự chủ lương thực và đang hướng tới xuất khẩu trở lại trong thời gian tới.