Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay biến động nhẹ, trong đó lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 tăng 200 đồng/kg. Ở chiều thế giới, Bộ Nông nghiệp Philippines đang cân nhắc áp trần nhập khẩu gạo 200.000 tấn/tháng từ tháng 6 - 10 nhằm ổn định nguồn cung và giữ giá thu mua tại ruộng.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 6/5/2026: Giá lúa tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện giao dịch ở mức 8.600 – 8.700 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 9.000 – 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 6/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp duy trì ổn định. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 6/5/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm 2 ở mức 7.350 – 7.450 đồng/kg; giá cám duy trì ở mức 6.450 – 6.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 6/5/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Thu Đông giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình do giá gạo giảm tiếp. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay chững lại so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 đồng loạt tăng 200 đồng/kg, thu mua trong khoảng 6.100 – 6.300 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 6/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam vẫn ổn định ở mức 496 - 500 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm đạt 490–500 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm có giá 391- 395 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu lớn khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động trong khoảng 390 - 394 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan đạt 350 - 354 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm giữ nguyên ở mức 349 - 353 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm có giá 344 - 348 USD/tấn.
Trong bối cảnh giá lúa nội địa lao dốc và vụ thu hoạch mùa mưa cận kề, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) đang tính đến phương án siết chặt nhập khẩu gạo, với mức trần 150.000–200.000 tấn/tháng trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 10. Động thái này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân khoảng 435.000 tấn/tháng trong quý I, cho thấy sự điều chỉnh mạnh tay nhằm tái cân bằng thị trường.
Theo DA, mục tiêu cốt lõi là bảo đảm nguồn cung trong nước mà không gây áp lực giảm giá lúa tại ruộng. Thực tế, tại các “vựa lúa” như Nueva Ecija và Isabela, giá lúa đã rơi xuống khoảng 16 peso/kg khi vụ thu hoạch chính sắp khép lại. Mức giá này thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng 22 peso/kg mà chính phủ đặt ra cho vụ mùa mưa (tháng 9 - 11) - giai đoạn được xem là then chốt để phục hồi thu nhập cho nông dân.
Áp lực không chỉ đến từ cung vượt cầu ngắn hạn, mà còn từ dòng gạo nhập khẩu giá rẻ. Việc hạn chế nhập khẩu gạo xay xát – vốn có giá cạnh tranh hơn – được kỳ vọng sẽ “giữ sàn” cho giá lúa nội địa, qua đó khuyến khích nông dân duy trì sản xuất. Nếu giá tiếp tục ở mức thấp, nguy cơ nông dân giảm diện tích gieo trồng là hiện hữu, kéo theo rủi ro an ninh lương thực trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao và thời tiết cực đoan như El Niño còn tiềm ẩn.
Tuy nhiên, bài toán điều hành không đơn giản. Dữ liệu cho thấy quý I/2026, Philippines đã nhập khẩu tới 1,26 triệu tấn gạo, vượt xa mức khuyến nghị 750.000 tấn của DA. Điều này phản ánh sự lệch pha giữa chính sách và thực thi, buộc cơ quan quản lý phải tính đến các công cụ pháp lý mạnh hơn, trong đó có dự luật RICE – sửa đổi Luật Thuế quan gạo nhằm kiểm soát chặt hạn ngạch nhập khẩu.
Song song đó, chính phủ cũng cân nhắc giải pháp pha trộn gạo nội địa với gạo nhập khẩu để bình ổn giá bán lẻ, đồng thời thúc đàm phán các hợp đồng cung ứng dài hạn với các nước xuất khẩu lớn như Việt Nam, Ấn Độ hay Pakistan.
Rõ ràng, Philippines đang đi trên “lằn ranh” giữa ổn định giá cho nông dân và đảm bảo đủ gạo cho thị trường - một bài toán không dễ, nhất là khi biến động cung - cầu toàn cầu ngày càng khó lường.