Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay tăng nhẹ với phụ phẩm, nhưng giảm với mặt hàng lúa. tính đến ngày 15/4/2026, Việt Nam xuất khẩu 2,8 triệu tấn gạo, đạt 1,3 tỷ USD, giảm 1,3% về lượng và 10,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 28/4/2026: Giá lúa giảm, phụ phẩm tăng nhẹ |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, nhiều kho lớn giao dịch chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo về lượng ít, giá gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán yếu, giá gạo ít biến động.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 8.400 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.600 - 8.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 28/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mức từ 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 28/4/2026 |
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm tăng nhẹ. Cụ thể, giá cám tăng 50 đồng/kg, lên 6.600 – 6.750 đồng/kg. Tuy nhiên, giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 28/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, nguồn về ít, giá biến động nhẹ. Tại Cần Thơ, nguồn có rải rác, giao dịch không nhiều, giá ổn định.
Tại Đồng Tháp, Cà Mau, Tại An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, bạn hàng hỏi mua ít, giá biến động.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18, giảm 100 đồng/kg, xuống mức 6.000 – 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) giảm 200 đồng/kg, về mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) giảm 100 đồng/kg, hiện ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; Trong khi đó, lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 28/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm vẫn được chào bán ở mức 490 - 500 USD/tấn, giá gạo Jasmine của Việt Nam vẫn đang được giao dịch ở mức 486 - 490 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm đạt 386 - 390 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm dao động trong khoảng 388 – 392 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Pakistan được giao dịch ở mức 358 - 362 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm dao động ở mức 346 - 350 USD/tấn; còn gạo đồ 5% tấm đạt 344 - 348 USD/tấn.
Số liệu từ Cục Hải quan cho thấy, nửa đầu tháng 4/2026, xuất khẩu đạt 530.991 tấn, trị giá 246,4 triệu USD, giảm 2,1% về lượng nhưng giảm tới 8,7% về trị giá so với cùng kỳ. Lũy kế đến 15/4, tổng khối lượng đạt 2,8 triệu tấn (giảm 1,3%), song kim ngạch chỉ đạt 1,3 tỷ USD, giảm sâu 10,5%. Điểm nghẽn nằm ở giá xuất khẩu bình quân chỉ còn 469 USD/tấn, thấp hơn 9,3% so với năm trước.
Diễn biến này phản ánh áp lực cạnh tranh gia tăng trên thị trường quốc tế trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dồi dào. Theo FAO, sản lượng gạo niên vụ 2025–2026 dự kiến đạt kỷ lục 563,3 triệu tấn, tăng 2% so với vụ trước. Cùng với đó, tồn kho toàn cầu dự báo tăng 4,2% lên 219,3 triệu tấn – mức cao chưa từng có. Khi cung vượt cầu tương đối, giá gạo xuất khẩu khó tránh xu hướng điều chỉnh giảm.
Ở chiều thị trường, cấu trúc xuất khẩu của Việt Nam đang có sự dịch chuyển rõ nét. Philippines tiếp tục là “trụ đỡ” với gần 1,2 triệu tấn trong quý I, tăng 21,3%, chiếm hơn 52% tổng lượng xuất khẩu. Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai với mức tăng trên 44%, cho thấy tín hiệu phục hồi mạnh của nhu cầu khu vực. Một số thị trường như Malaysia, Ả Rập Xê út hay Australia cũng ghi nhận tăng trưởng hai chữ số.
Ngược lại, khu vực châu Phi suy giảm sâu, đặc biệt Senegal giảm tới 98,7%, cho thấy sự thu hẹp của các thị trường nhạy cảm về giá. Trong bối cảnh thương mại gạo toàn cầu năm 2026 được dự báo giảm 1,6% xuống còn 60 triệu tấn, áp lực cạnh tranh sẽ còn kéo dài.