Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không ghi nhận điều chỉnh mới. Tuần qua, thị trường gạo châu Á diễn biến trái chiều, khi giá gạo Ấn Độ giữ ổn định nhờ đồng rupee suy yếu bù đắp chi phí nội địa tăng; giá gạo Việt Nam đi ngang do nguồn cung hạn chế; trong khi Thái Lan giảm giá vì nhu cầu quốc tế suy yếu.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 25/4/2026: Giá lúa gạo trong nước ổn định, thị trường xuất khẩu trái chiều |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục bình ổn so với ngày hôm trước. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 8.400 – 8.500 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 25/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 25/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không biến động. Cụ thể, giá cám hiện giao dịch ở mức 6.600 – 6.700 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 25/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục chững lại so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 - 6.200; Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; OM 5451 (tươi) hiện ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 25/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Thị trường gạo châu Á tuần qua ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét khi các yếu tố tiền tệ, cung – cầu và chi phí sản xuất cùng lúc tác động, khiến giá giữa các quốc gia xuất khẩu lớn đi theo những hướng khác nhau.
Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu duy trì ổn định dù giá lúa nội địa tăng. Gạo đồ 5% tấm được chào ở mức 344 - 350 USD/tấn, trong khi gạo trắng cùng loại dao động 338 - 344 USD/tấn. Điểm đáng chú ý nằm ở yếu tố tỷ giá: đồng rupee suy yếu xuống mức thấp nhất trong hơn ba tuần so với USD đã giúp gạo Ấn Độ giữ được lợi thế cạnh tranh, phần nào bù đắp áp lực chi phí trong nước.
Trong khi đó, thị trường Việt Nam lại rơi vào trạng thái “nín thở”. Giá gạo 5% tấm giữ nguyên ở mức 375–380 USD/tấn, nhưng giao dịch không thực sự sôi động. Nguyên nhân chính đến từ nguồn cung trong nước đang dần thu hẹp, khiến lượng hàng chào bán ra thị trường không nhiều. Dữ liệu xuất khẩu cho thấy, khối lượng gạo xuất đi từ đầu năm đến giữa tháng 4 đạt 2,81 triệu tấn, giảm nhẹ so với cùng kỳ, phản ánh sự chững lại nhất định. Tuy nhiên, nhu cầu từ các thị trường truyền thống như Philippines, châu Phi hay Malaysia vẫn duy trì, giúp giá không bị giảm sâu.
Trái ngược, Thái Lan chứng kiến đà giảm mạnh khi giá gạo 5% tấm lùi về 390–395 USD/tấn, mất tới 15–20 USD/tấn chỉ trong một tuần. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu quốc tế suy yếu, khi các đơn hàng lớn vắng bóng, chỉ còn giao dịch nhỏ lẻ. Trong bối cảnh đó, nguồn cung vẫn được đưa ra thị trường, tạo áp lực giảm giá rõ rệt.
Ở góc độ chính sách, Bangladesh dự kiến thu mua tới 1,8 triệu tấn lúa và gạo từ tháng 5 nhằm bình ổn giá trong nước. Bên cạnh đó, áp lực lạm phát lương thực vẫn hiện hữu, ngay cả khi nguồn cung toàn cầu không thiếu hụt.