Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Tại An Giang, nông dân cho biết vẫn chưa bán ra do giá thu mua không tăng so với năm 2025, trong khi chi phí sản xuất lại tăng cao, khiến lợi nhuận bị thu hẹp.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 29/4/2026: Giá lúa gạo bình ổn, nông dân chịu áp lực chi phí tăng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại bình ổn so với hôm qua. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá tương đối ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho giao dịch mua bán khá, giá không biến động. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 8.400 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.600 - 8.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 29/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, hiện gạo thường dao động ở mức từ 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen tại An Giang có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 29/4/2026 |
Phân khúc nếp không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 29/4/2026 |
Giá các loại phụ phẩm bình ổn. Cụ thể, giá cám hiện ở mức 6.600 – 6.750 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương hôm nay, thị trường giao dịch cầm chừng, nhu cầu chậm, lúa có xu hướng quay đầu. Tại Bạc Liêu, giao dịch lúa mới rất chậm, đa số thương lái ngưng mua, một số xin bớt giá giá cao.
Tại Long An, giá lúa Đông Xuân giảm tiếp, đa số ngưng mua mới, chờ tình hình. Tại An Giang, lúa cuối đồng giao dịch ít, hầu hết lúa đã cọc. Tại Đồng Tháp, lúa nông dân chào bán ít, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay duy trì đi ngang so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 hiện ở mức 6.000 – 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 29/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo 5% tấm của Việt Nam giữ trong vùng 490 – 500 USD/tấn, gạo Jasmine ở mức 486 – 490 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm dao động 386 – 390 USD/tấn.
Trên thị trường khu vực, mặt bằng giá không có nhiều thay đổi: gạo 5% tấm của Thái Lan ở mức 388 – 392 USD/tấn; Pakistan thấp hơn, quanh 358 – 362 USD/tấn; trong khi Ấn Độ tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh với gạo trắng 5% tấm ở mức 346 – 350 USD/tấn và gạo đồ 5% tấm đạt 344 – 348 USD/tấn.
Thị trường lúa gạo khu vực đang bước vào giai đoạn nhạy cảm khi áp lực chi phí gia tăng mạnh, trong khi giá bán gần như đi ngang. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân vừa thu hoạch vụ Đông Xuân nhưng chưa vội bán ra do giá thu mua không cải thiện so với năm trước. Trong khi đó, chi phí đầu vào, đặc biệt là nhiên liệu, đã tăng đáng kể, thậm chí có thời điểm tăng gấp đôi, khiến lợi nhuận bị thu hẹp rõ rệt. Trước thực tế này, không ít hộ bắt đầu cân nhắc giảm sản xuất hoặc điều chỉnh kế hoạch vụ tiếp theo.
Áp lực không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà lan rộng sang các quốc gia xuất khẩu lớn trong khu vực. Xung đột tại Trung Đông đang tạo ra cú sốc kép lên chuỗi cung ứng, khi giá năng lượng tăng cao và các tuyến vận tải chiến lược bị gián đoạn. Hoạt động xuất khẩu tại một số quốc gia đã bị đình trệ do tàu hàng không thể lưu thông qua các điểm nóng, buộc doanh nghiệp phải tìm hướng đi thay thế.
Dù hiện tại xuất khẩu gạo của Việt Nam chưa chịu tác động trực tiếp quá lớn nhờ tập trung vào các thị trường gần, nhưng rủi ro đang dần hiện hữu. Một số thị trường chủ lực có dấu hiệu thu hẹp nhu cầu, trong khi chi phí logistics tăng nhanh. Thời gian vận chuyển kéo dài thêm từ 7 đến 15 ngày, chi phí vận tải biển tăng 25 – 35%, cộng thêm phí bảo hiểm và chi phí nội địa leo thang, đang tạo áp lực lớn lên toàn chuỗi giá trị.
Trong bối cảnh đó, xu hướng tái cơ cấu sản xuất bắt đầu xuất hiện. Một số mô hình chuyển sang ứng dụng công nghệ nhằm giảm chi phí và nâng hiệu quả, đồng thời cân nhắc giảm số vụ trong năm để tối ưu lợi nhuận. Điều này cho thấy ngành lúa gạo đang đứng trước bước chuyển quan trọng, từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng và thích ứng với biến động toàn cầu.