Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay duy trì đà đi ngang. Tại Việt Nam, xuất khẩu gạo đạt 2,3 triệu tấn, kim ngạch 1,1 tỷ USD, giảm do giá bình quân hạ gần 10% còn 470 USD/tấn.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 3/5/2026: Giá gạo xuất khẩu giảm giá, thị trường nội địa lặng sóng |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay lượng về lai rai, giao dịch mua bán ít. Tại Sa Đéc (Đồng Tháp), gạo ngang về ít, gạo nguyên liệu các loại giá ổn định. Tại Lấp Vò (Đồng Tháp), nhu cầu kho mua yếu, mặt bằng giá không đổi.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá đi ngang.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 hiện ở mức 8.400 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.600 - 8.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 3/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thường hiện dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg. Hiện, gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 3/5/2026 |
Phân khúc nếp đi ngang. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 3/5/2026 |
Giá các loại phụ phẩm không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg; giá cám hiện ở mức 6.600 – 6.750 đồng/kg.
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa không còn dồi dào, kéo theo hoạt động mua bán diễn ra chậm. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, khiến giá biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa tăng nhẹ.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không đổi so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa OM 18 hiện ở mức 6.000 – 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 3/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Thị trường gạo thế giới trong quý I/2026 chứng kiến những biến động đáng chú ý khi giá quay đầu giảm vào cuối kỳ, chủ yếu do tác động lan rộng từ xung đột tại Trung Đông. Những gián đoạn trong vận tải, chi phí bảo hiểm tăng cao cùng tâm lý thận trọng của thương nhân đã kéo mặt bằng giá đi xuống, bất chấp xu hướng phục hồi trong hai tháng đầu năm. Theo FAO, chỉ số giá gạo toàn cầu (FARPI) bình quân quý I đạt 102,1 điểm, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy áp lực điều chỉnh vẫn chiếm ưu thế trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, bước sang đầu tháng 4, thị trường nhanh chóng đảo chiều khi giá gạo tại các trung tâm xuất khẩu lớn như Việt Nam và Thái Lan đồng loạt tăng trở lại. Động lực chính đến từ nhu cầu cải thiện, trong khi chi phí vận chuyển và sản xuất leo thang, tạo lực đẩy mới cho giá. Bên cạnh đó, yếu tố cung – cầu dài hạn vẫn đang nghiêng theo hướng hỗ trợ thị trường. FAO dự báo sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025–2026 đạt kỷ lục 563,3 triệu tấn, tăng 2%, nhưng tiêu thụ còn tăng nhanh hơn, lên tới 555,6 triệu tấn, tăng 2,7%, phản ánh nhu cầu vẫn duy trì ở mức cao.
Diễn biến thương mại cũng cho thấy sự phân hóa rõ rệt. Xuất khẩu gạo basmati toàn cầu được dự báo giảm xuống còn khoảng 6,4–6,5 triệu tấn do Ấn Độ cắt giảm khoảng 9% sản lượng xuất khẩu vì ảnh hưởng từ xung đột Trung Đông. Ngược lại, nhu cầu nhập khẩu tại châu Á vẫn tăng mạnh, điển hình là Philippines với 1,26 triệu tấn trong quý I, tăng 37% so với cùng kỳ.
Tại Việt Nam, xuất khẩu đạt 2,3 triệu tấn, kim ngạch 1,1 tỷ USD, giảm cả về lượng lẫn giá trị, chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm gần 10% xuống còn 470 USD/tấn. Dù vậy, tín hiệu phục hồi đã xuất hiện trong tháng 3. Trong bối cảnh nguồn cung trong nước dần thu hẹp khi vụ Đông Xuân kết thúc, cùng lo ngại El Nino và chi phí đầu vào tăng, thị trường gạo được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng tích cực trong thời gian tới.