Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay giảm nhẹ 1.000 đồng/kg với gạo thường. Trên thị trường quốc tế, Philippines đang đối mặt nguy cơ thiếu hụt nguồn cung gạo trong năm nay do sản lượng sụt giảm.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 30/4/2026: Giá gạo thường giảm nhẹ, Philippines lo thiếu nguồn cung |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu bình ổn so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện ở mức 8.400 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.600 - 8.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 30/4/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thường giảm 1.000 đồng/kg, dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg. Hiện, gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 30/4/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm ổn định. Cụ thể, giá cám hiện ở mức 6.600 – 6.750 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 30/4/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không đổi so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 hiện ở mức 6.000 – 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; giá lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 30/4/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm của Việt Nam vẫn được giao dịch ở mức 490–500 USD/tấn, gạo Jasmine trong khoảng 486 - 490 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm có giá 386 – 390 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động trong khoảng 388 – 392 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Pakistan có giá 358 - 362 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì ở mức 346 - 350 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 344–348 USD/tấn.
Theo The Manila Times, Liên đoàn Nông dân Tự do Philippines (FFF) cảnh báo Philippines có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn cung gạo ngay trong năm 2026, khi sản xuất nội địa suy giảm trong bối cảnh rủi ro địa chính trị và chi phí đầu vào gia tăng.
Cụ thể, FFF dự báo sản lượng lúa nửa đầu năm có thể giảm khoảng 6%, chủ yếu do nông dân thu hẹp diện tích gieo trồng sau khi giá lúa năm 2025 xuống thấp, thậm chí có thời điểm dưới chi phí sản xuất.
Dù nguồn cung năm 2025 vẫn được duy trì nhờ nhập khẩu và tồn kho chuyển tiếp, bức tranh năm 2026 đang kém tích cực hơn. Trong kịch bản cơ sở, nếu sản lượng nửa cuối năm giảm 10%, tổng nguồn cung chỉ còn khoảng 13,7 triệu tấn, thấp hơn đáng kể so với nhu cầu dự kiến từ 15,6 – 16 triệu tấn. Đáng lo ngại hơn, trong kịch bản xấu khi sản lượng giảm tới 50% do chi phí cao và tác động của El Niño, nguồn cung có thể rơi xuống gần 11 triệu tấn, kéo theo nguy cơ thiếu hụt tới 2,2 triệu tấn gạo.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng tiếp tục tăng khoảng 3%/năm, khiến áp lực cân đối cung - cầu ngày càng lớn. Để đảm bảo dự trữ an toàn, Philippines có thể phải nhập khẩu từ 4,6 đến gần 7 triệu tấn gạo, tăng mạnh so với năm trước.
Tuy nhiên, FFF nhấn mạnh việc phụ thuộc lớn vào nhập khẩu là rủi ro trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động. Nguồn cung từ các nước xuất khẩu chủ lực có thể bị thu hẹp, trong khi chi phí logistics leo thang do căng thẳng tại Iran.
Trước tình hình này, FFF kêu gọi Chính phủ khẩn cấp hỗ trợ phân bón, giảm chi phí đầu vào và tăng cường giải pháp thích ứng khí hậu nhằm ổn định sản xuất, tránh kịch bản khủng hoảng lương thực trong trung hạn.