Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay giữ ổn định trong kỳ nghỉ lễ. Trong khi gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục tăng giá, vươn lên dẫn đầu khu vực và vượt Thái Lan.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 1/5/2026: Giá gạo Việt tăng giá, vượt Thái Lan trên thị trường xuất khẩu |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trầm lắng, giá gạo các loại tương đối ổn định. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, ít kho mua vào, gạo các loại giá ổn định.
Kênh chợ Sa Đéc, các kho tạm ngưng giao dịch, mua bán ít. giá giảm nhiều. Tại An Cư (Cái Bè, Tiền Giang), gạo có lai rai, ít gạo đẹp, giá giảm.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu không đổi so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 504 hiện ở mức 8.400 - 8.450 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.600 - 8.800 đồng/kg; giá gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 1/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo thường hiện dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg. Hiện, gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không ghi nhận biến động mới. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 1/5/2026 |
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm đ ingang so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá cám hiện ở mức 6.600 – 6.750 đồng/kg; giá tấm thơm hiện ở mức 7.550 – 7.650 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 1/5/2026 |
Giá lúa trong nước
Ghi nhận tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch chậm, nguồn lúa chào bán rải rác tại một số khu vực, giá ổn định. Tại An Giang, bạn hàng giao dịch ít, giá biến động không nhiều.
Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch tại một số khu vực, giá vững. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch mua bán ít, lúa các loại giá vững giá.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mốc 6.000 - 6.100; lúa OM 18 hiện ở mức 6.000 – 6.100; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 1/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Jasmine của Việt Nam hiện được giao dịch ở mức 496 - 500 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn so với tuần trước. Tương tự, gạo trắng 5% tấm cũng tăng 5 USD/tấn, lên 391 - 395 USD/tấn - mức cao nhất trong nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu khu vực. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm giữ ổn định ở mức 490 - 500 USD/tấn.
Ở các quốc gia xuất khẩu lớn khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động trong khoảng 390 - 394 USD/tấn, tăng nhẹ 2 USD/tấn so với tuần trước. Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm tăng 3 USD/tấn, đạt 349 - 353 USD/tấn; trong khi gạo đồ 5%
tấm lại giảm 2 USD/tấn, xuống còn 344–348 USD/tấn. Riêng tại Pakistan, giá gạo trắng 5% tấm giảm mạnh 8 USD/tấn, còn 350–354 USD/tấn.
Giá gạo tại Philippines đang đứng trước nguy cơ tăng mạnh trong những tháng tới, khi chi phí đầu vào leo thang và rủi ro thời tiết cực đoan cùng lúc gia tăng. Theo Bộ trưởng Nông nghiệp Francisco Tiu Laurel, giá gạo có thể chạm mốc 62 peso/kg vào tháng 9 – cao hơn khoảng 20 peso so với giai đoạn trước khi xung đột Trung Đông bùng phát.
Nguyên nhân trực tiếp đến từ giá phân bón tăng gần gấp đôi, từ 1.650 peso lên 3.000 peso/kg, kéo chi phí sản xuất lúa gạo lên cao. Trong bối cảnh đó, nếu nông dân vẫn duy trì phương thức canh tác truyền thống, phụ thuộc vào phân urê thay vì chuyển sang các giải pháp thay thế như phân bón sinh học, áp lực giá sẽ càng lớn. Đáng chú ý, theo các chuyên gia, chỉ 1 kg phân bón sinh học có thể thay thế tới 100 kg urê, mở ra hướng giảm chi phí nhưng việc áp dụng vẫn còn hạn chế.
Song song với bài toán chi phí, Philippines còn đối mặt với nguy cơ El Niño quay trở lại trong nửa cuối năm 2026. Hiện tượng này có thể gây nắng nóng kéo dài, giảm lượng mưa, thậm chí dẫn tới hạn hán, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa. Kịch bản này từng xảy ra năm 2024, khi sản lượng sụt giảm buộc nước này phải nhập khẩu tới 4,8 triệu tấn gạo – mức cao nhất trong hơn một thập kỷ, tăng 32% so với năm trước.
Trước áp lực kép, Chính phủ Philippines đang tính đến phương án pha trộn gạo nội địa với gạo nhập khẩu theo tỷ lệ 70 - 30 nhằm hạ nhiệt giá bán lẻ. Với giá gạo nhập khẩu khoảng 33 - 34 peso/kg và bán ra khoảng 40 peso/kg, giải pháp này có thể giúp bình ổn phần nào thị trường, đồng thời vẫn duy trì đầu ra cho sản xuất trong nước.