Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không biến động. Trên thị trường thế giới, giá gao xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh tới 20 USD/tấn.
![]() |
| Giá lúa gạo hôm nay 7/5/2026: Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng vọt |
Giá gạo trong nước
Ghi nhận tại các địa phương hôm nay, thu mua chậm, gạo các loại bình ổn. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá gạo các loại ít biến động.
Tại Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), về lượng ít, gạo các loại giá ổn định. Tại An Cư - Đồng Tháp, giao dịch mua bán không nhiều, giá gạo biến động nhẹ.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu tiếp tục ổn định so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 hiện giao dịch ở mức 8.600 – 8.700 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu CL 555 ở mức 9.000 – 9.200 đồng/kg; gạo OM 18 dao động quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg; OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm OM 5451 ở mức 10.750 – 10.900 đồng/kg; gạo IR 50404 hiện ở mức 8.500 – 8.600 đồng/kg; Sóc thơm với giá từ 7.500 – 7.600 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá gạo hôm nay 7/5/2026 |
Tại các chợ lẻ, giá gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mức 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá nếp hôm nay 7/5/2026 |
Phân khúc nếp không đổi. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô hiện ở mức 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm
Giá các loại phụ phẩm không biến động so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá tấm 2 ở mức 7.350 – 7.450 đồng/kg; giá cám duy trì ở mức 6.450 – 6.550 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá phụ phẩm hôm nay 7/5/2026 |
Giá lúa trong nước
Tại nhiều địa phương trong vùng, nguồn lúa đang bước vào giai đoạn cuối vụ nên lượng hàng không còn dồi dào, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng. Ở Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, sức mua chậm khiến giá hầu như không biến động.
Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Cần Thơ và Tây Ninh, thị trường lúa cũng trong trạng thái giao dịch cầm chừng, giá các loại lúa nhìn chung giữ ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay bình ổn so với phiên hôm qua. Theo đó, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện thu mua trong khoảng 6.100 – 6.300 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động quanh mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) giao dịch từ 5.100 - 5.200 đồng/kg.
![]() |
| Bảng giá lúa hôm nay 7/5/2026 |
Tại thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam tăng mạnh 20 USD/tấn, lên mức 510 - 520 USD/tấn; giá gạo Jasmine cũng tăng 17 USD/tấn, dao động trong khoảng 513 - 517 USD/tấn; giá gạo trắng 5% tấm tăng 7 USD/tấn, ở mức 398 - 402 USD/tấn - cao nhất trong số các nước xuất khẩu gạo hàng đầu trong khu vực.
Tại các quốc gia xuất khẩu lớn khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan cũng tăng 7 USD/tấn, đạt 396 - 400 USD/tấn. Trong khi đó, sản phẩm cùng loại của Pakistan đi ngang trong khoảng 350–354 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm giảm 3 USD/tấn, còn 346 - 350 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm có giá 337 - 341 USD/tấn, giảm 7 USD/tấn.
Theo dữ liệu từ S&P Global Platts, thị trường gạo Ấn Độ đang ghi nhận xu hướng giảm giá sâu, phản ánh rõ nét sự suy yếu đồng thời của cả cung – cầu trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động. Đáng chú ý, giá gạo đồ 5% tấm đã lùi về mức 324 USD/tấn (FOB) – thấp nhất trong nhiều năm, giảm mạnh so với các mốc năm 2021 và 2018, trong khi gạo 100% tấm cũng mất giá đáng kể, xuống còn 269 USD/tấn.
Diễn biến này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nhập khẩu suy yếu tại các thị trường truyền thống ở châu Phi như Benin, Burkina Faso và Senegal – những đối tác tiêu thụ lớn của gạo Ấn Độ. Việc các quốc gia này đồng loạt siết chặt chính sách nhập khẩu, từ áp hạn ngạch đến cấm nhập khẩu, đã khiến dòng chảy thương mại bị gián đoạn, kéo theo tình trạng hủy đơn hàng, chậm thanh toán và tồn kho gia tăng. Cảnh báo từ Hiệp hội các nhà xuất khẩu gạo Chhattisgarh cho thấy áp lực tài chính đang đè nặng lên doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm vừa và nhỏ.
Ở chiều cung, áp lực càng lớn khi nguồn hàng từ vụ mới bắt đầu gia tăng, khiến thị trường nội địa rơi vào trạng thái dư cung cục bộ. Giá lúa tại các chợ địa phương giảm mạnh, buộc các nhà máy xay xát phải hạ giá bán để giải phóng hàng tồn. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc – một điểm đến tiềm năng lại tiềm ẩn rủi ro khi gia tăng lo ngại về yếu tố biến đổi gen, dù mức chào mua vẫn duy trì ổn định.
Số liệu từ APEDA cũng cho thấy xuất khẩu gạo của Ấn Độ trong hai tháng đầu năm giảm 15% so với cùng kỳ, củng cố thêm xu hướng suy yếu của thị trường.
Trong thời gian tới, với áp lực kép từ chính sách nhập khẩu thắt chặt và nguồn cung dồi dào, giá gạo Ấn Độ được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng giảm, đặc biệt ở phân khúc gạo đồ 5% tấm - mặt hàng chịu tác động trực tiếp từ các biến động thương mại hiện nay.