Thông tư số 86/2026/TT-BTC hướng dẫn cụ thể về việc khai thuế, nộp hồ sơ, trách nhiệm của các bên liên quan, đồng thời siết chặt tính chính xác của dữ liệu điện tử.
Cụ thể, theo quy định mới, người nộp thuế phải thực hiện khai thuế theo từng lần phát sinh đối với toàn bộ các sắc thuế liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, bao gồm: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng. Việc khai bổ sung, thời hạn nộp hồ sơ cùng tỷ giá tính thuế sẽ bám sát các quy định hiện hành của pháp luật về hải quan.
![]() |
| Thông tư yêu cầu người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của toàn bộ thông tin, chứng từ và dữ liệu cung cấp; đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa hồ sơ lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ gửi cơ quan hải quan. |
Tuy nhiên, cơ chế mới cũng tạo độ mở lớn khi quy định rõ các trường hợp không phải khai thuế theo từng lần phát sinh đối với một số nhóm hàng hóa đặc thù. Danh mục này bao gồm: điện năng xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa bán tại khu vực cách ly ở các sân bay quốc tế (trừ hàng miễn thuế); hàng hóa cung cấp trên các chuyến bay quốc tế; nhiên liệu cung ứng cho tàu bay xuất cảnh và một số giao dịch đặc biệt giữa doanh nghiệp ưu tiên với đối tác theo Luật Hải quan.
Sự thay đổi lớn nhất mà các doanh nghiệp cần lưu ý nằm ở phương thức nộp hồ sơ khai thuế (được xác định là hồ sơ hải quan và nộp tại nơi đăng ký tờ khai). Bộ Tài chính cho phép áp dụng song song hai hình thức:
Đối với hình thức hồ sơ điện tử: Người nộp thuế khai báo đầy đủ, chính xác thông tin trên tờ khai hải quan và chứng từ liên quan qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Nếu chỉ tiêu nào chưa thể khai trực tuyến, doanh nghiệp được phép nộp bản chụp có ký số.
Đối với hình thức hồ sơ giấy: Áp dụng bắt buộc nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu chính đối với các chứng từ yêu cầu bản chính; các chứng từ không yêu cầu bản chính được phép dùng bản chụp.
Đáng chú ý, Thông tư 86/2026/TT-BTC thể hiện rõ quyết tâm đẩy mạnh quản lý thuế trên nền tảng số. Đối với các hồ sơ liên quan đến miễn, giảm, hoàn, không thu thuế, gia hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp... mà dữ liệu đã được cập nhật trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc các cơ sở dữ liệu kết nối trực tiếp với hải quan, doanh nghiệp hoàn toàn không phải nộp lại chứng từ. Thay vào đó, người nộp thuế chỉ cần cung cấp mã thông tin để cơ quan hải quan tự tra cứu, khai thác trên hệ thống.
Song hành với việc đơn giản hóa thủ tục, cơ quan quản lý cũng tăng trách nhiệm tự chịu trách nhiệm của khu vực tư nhân. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của mọi thông tin, đồng thời bảo đảm sự thống nhất tuyệt đối giữa hồ sơ lưu nội bộ và hồ sơ gửi đi.
Về phía cơ quan quản lý, khi xác định nghĩa vụ thuế, cán bộ hải quan sẽ khai thác, đối chiếu trực tiếp từ Cổng thông tin một cửa quốc gia, Cổng dịch vụ công, Cổng thông tin một cửa ASEAN cùng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã kết nối, chia sẻ. Riêng đối với hoạt động giao thương qua các nền tảng thương mại điện tử và nền tảng số, việc khai và nộp thuế tiếp tục tuân thủ theo Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn hiện hành.