Áp lực mới từ thuế quan và chi phí đầu vào
Theo ông Hoàng Mạnh Cầm - Chánh Văn phòng Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), sau khi kết thúc thời hạn áp dụng mức thuế tạm thời 10% vào ngày 24/7, Mỹ chuyển sang áp dụng cơ chế thuế theo Section 301 liên quan đến lao động cưỡng bức với nhiều nhóm thuế khác nhau được cộng trực tiếp vào thuế tối huệ quốc (MFN).
![]() |
| Theo số liệu từ VITAS, trong nửa đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt ước khoảng 22,2 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ. |
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu mức thuế cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu so với các nước có mức thuế thấp hơn. Ông Hoàng Mạnh Cầm nhận cấu trúc thuế mới không chỉ tác động đến hàng may mặc thành phẩm mà còn có thể làm dịch chuyển đơn hàng cũng như chuỗi cung ứng sợi, vải và nguyên liệu. Vì vậy, doanh nghiệp cần đánh giá lại lợi thế cạnh tranh theo từng nhóm sản phẩm, từng thị trường và từng mắt xích trong chuỗi giá trị.
Cùng với áp lực thuế quan, kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng thận trọng khi nhiều ngân hàng trung ương duy trì lãi suất ở mức cao. Điều này làm gia tăng chi phí vốn, ảnh hưởng đến sức mua và hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp.
Dù vậy, xuất khẩu dệt may Việt Nam trong sáu tháng đầu năm vẫn đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025. Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, tiếp theo là EU, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Đà tăng tại thị trường EU và Trung Quốc cho thấy hiệu quả bước đầu của quá trình đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Doanh nghiệp siết quản trị để giữ hiệu quả
Theo Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu, kết quả sản xuất, kinh doanh bảy tháng đầu năm tương đối tích cực nhưng biên lợi nhuận của cả ngành sợi và ngành may đang thu hẹp do giá nguyên liệu, giá bán, cơ cấu đơn hàng và chi phí đầu vào liên tục biến động.
Ông cho rằng các đơn vị cần chủ động xây dựng nhiều kịch bản điều hành đối với đơn hàng, nguyên liệu, tỷ giá và logistics; đồng thời kiểm soát chặt chi phí, dòng tiền, công nợ, hàng tồn kho và vốn lưu động. Việc nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm và tiến độ giao hàng cũng là yếu tố quyết định để giữ khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Ngọc Tuấn - Tổng Giám đốc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam Định, cho biết chi phí vận chuyển và giá nguyên phụ liệu tăng đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, nhờ các giải pháp điều hành linh hoạt, doanh thu sáu tháng đầu năm của đơn vị đạt 662,2 tỷ đồng, tăng 14%; lợi nhuận trước thuế đạt 15,2 tỷ đồng, đảo chiều so với mức lỗ 12,5 tỷ đồng cùng kỳ và hoàn thành 169% kế hoạch năm.
Theo ông Tuấn, trong thời gian tới doanh nghiệp sẽ tiếp tục lấy hiệu quả và dòng tiền làm trọng tâm, đồng thời cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm việc làm và nâng cao thu nhập để giữ chân người lao động.
Ba trụ cột nâng sức cạnh tranh của ngành
Dù mỗi năm xuất khẩu hàng chục tỷ USD, ngành Dệt may Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 70-80% nguyên phụ liệu, nhất là các loại nguyên liệu và phụ kiện chất lượng cao. Đây là nguyên nhân khiến giá trị gia tăng của ngành còn hạn chế.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Đức, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở khâu dệt nhuộm. Nếu hoàn thiện được chuỗi từ sợi, dệt, nhuộm đến may mặc, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn về nguồn nguyên liệu, giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh.
Ông cũng cho rằng cần phát triển các khu công nghiệp chuyên ngành để hình thành chuỗi cung ứng đồng bộ, đồng thời có cơ chế ưu đãi nhằm thu hút đầu tư và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu còn nhiều biến động, ngành dệt may Việt Nam đã xác định ba trụ cột chiến lược gồm đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường và đa dạng hóa khách hàng.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) Vũ Đức Giang, sản phẩm dệt may Việt Nam hiện đã có mặt tại 138 thị trường, qua đó giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động từ bên ngoài.
Để hiện thực hóa chiến lược này, ngành đang đẩy mạnh xanh hóa sản xuất, coi phát triển bền vững là điều kiện để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Song song với đó là tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, tự động hóa, robot hóa và từng bước đưa trí tuệ nhân tạo vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh trong dài hạn.