Đây là vấn đề ngày càng bộc lộ rõ rệt khi hoạt động xuất nhập khẩu mở rộng, các bến bãi đầu tư thiết bị hiện đại và yêu cầu về tốc độ, chất lượng dịch vụ ngày càng cao.
Cửa khẩu cần người có kỹ năng thay vì lao động giản đơn
Ở các khu vực Tân Thanh, Hữu Nghị, Chi Ma, sự thay đổi về hạ tầng và thiết bị đã tác động trực tiếp đến cơ cấu việc làm.
Những công việc trước đây cần nhiều lao động bốc xếp, mang vác nay được hỗ trợ bằng xe nâng, băng tải và các thiết bị chuyên dụng. Năng suất được cải thiện, sức lao động giảm xuống, nhưng người làm việc phải có khả năng vận hành máy móc và xử lý tình huống trong quá trình khai thác.
![]() |
| Báo cáo Logistics Việt Nam của Bộ Công Thương cho biết dự kiến đến năm 2030, nhu cầu nguồn nhân lực về logistics của cả nước là trên 200.000 nhân lực. Trong khi đó, khả năng đáp ứng về nhu cầu nguồn nhân lực logistics chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu thị trường. |
Thay đổi này cũng kéo theo thay đổi trong nhu cầu tuyển dụng. Doanh nghiệp không còn chỉ cần số lượng lao động lớn mà cần người có thể làm việc với thiết bị, hiểu quy trình và đáp ứng yêu cầu vận hành thực tế.
Tại Công viên logistics Viettel Lạng Sơn, nhu cầu nhân lực đã được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa hơn. Phó Giám đốc vận hành Vũ Văn Dũng cho biết đơn vị hiện có khoảng 200 nhân sự, trong đó 20% là nhân sự vận hành chủ chốt. Lực lượng này làm việc theo ca để bảo đảm hoạt động 24/24 giờ.
Theo ông Dũng, đặc thù vận hành khiến doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức đào tạo để tuyển chọn và nâng cao chất lượng nhân sự.
Khoảng trống từ trường học đến doanh nghiệp
Bài toán nhân lực không chỉ xuất hiện tại Lạng Sơn. Theo nghiên cứu của Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA), nhu cầu nhân lực logistics của Việt Nam có thể lên khoảng 2,2 triệu người vào năm 2030. Trong đó, doanh nghiệp dịch vụ logistics cần khoảng 1,6 triệu người, còn gần 600.000 lao động phục vụ logistics trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Trong khi đó, cả nước hiện có khoảng 30 trường đại học đào tạo ngành hoặc chuyên ngành logistics, với quy mô khoảng 3.000 sinh viên tuyển mới mỗi năm. Khối cao đẳng đào tạo các ngành liên quan bổ sung khoảng 800-1.000 người học mỗi năm.
Khoảng cách giữa nhu cầu và năng lực đào tạo khiến doanh nghiệp phải tự đào tạo lại một phần nhân sự. Với khu vực cửa khẩu, khoảng trống này càng rõ ở những vị trí đòi hỏi kỹ năng chuyên biệt.
Ông Vi Hoài Nam - Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm, Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn cho biết, trình độ và kỹ năng nghề của một bộ phận nhân sự tuyển vào các đơn vị bến bãi, xuất nhập khẩu còn hạn chế, nhất là các vị trí vận hành thiết bị nâng hạ, cẩu siêu trường, siêu trọng.
![]() |
| Để đảm bảo an toàn trong lao động, người sử dụng thiết bị nâng hạ cần tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc cơ bản và bắt buộc. |
Trong khi đó, mỗi năm doanh nghiệp tại khu vực cửa khẩu có nhu cầu tuyển khoảng 100-200 lao động có tay nghề.
Lạng Sơn hiện chưa có cơ sở đào tạo chuyên sâu về vận hành một số thiết bị chuyên dùng như máy cẩu, máy nâng hạng. Nhân lực phục vụ quản trị doanh nghiệp, logistics và vận tải cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế.
Doanh nghiệp phải tham gia đào tạo
Với những vị trí đặc thù, đào tạo lý thuyết đơn thuần khó đáp ứng ngay yêu cầu công việc. Ông Mai Đức Trung - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ xuất nhập khẩu Tổng hợp Chi Ma HTT (tỉnh Lạng Sơn) cho rằng đào tạo cho các vị trí vận hành máy cẩu, máy nâng hạng và thiết bị chuyên dùng cần gắn trực tiếp với thiết bị và quy trình thực tế. Đây cũng là cách doanh nghiệp này đang áp dụng với lao động tuyển mới.
Bên cạnh đào tạo đầu vào, doanh nghiệp cần tiếp tục đào tạo lại và nâng kỹ năng cho lực lượng đang làm việc. Nhu cầu nhân lực tại cửa khẩu cũng không dừng ở vận hành thiết bị mà mở rộng sang quản lý kho, điều phối vận tải, xuất nhập khẩu, quản trị doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ trong lưu chuyển hàng hóa.
Với doanh nghiệp logistics, bài toán nhân sự vì thế đã chuyển sang một cấp độ khác. Thiếu lao động có kỹ năng có thể trực tiếp làm tăng thời gian đào tạo, chi phí tuyển dụng và chi phí vận hành. Ngược lại, nếu xây dựng được nguồn nhân lực tại chỗ, doanh nghiệp có thể giảm phụ thuộc vào lao động từ địa phương khác và chủ động hơn trong tổ chức sản xuất.
AI đang thay đổi chuẩn nhân lực logistics
Sự dịch chuyển về yêu cầu nhân lực còn diễn ra ở cấp độ rộng hơn khi công nghệ ngày càng tham gia sâu vào logistics.
AI, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây và blockchain đang được ứng dụng trong dự báo nhu cầu, tối ưu tuyến vận tải, quản trị tồn kho, điều phối phương tiện và quản lý rủi ro chuỗi cung ứng.
Theo ông Nguyễn Anh Dương - Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương), chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu để nâng cao năng lực cạnh tranh logistics. Những công việc lặp lại có xu hướng được tự động hóa, trong khi nhân sự biết khai thác dữ liệu và sử dụng AI sẽ có lợi thế hơn.
Ông Hoàng Đình Kiên - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hòa Phát Logistics, cũng nhấn mạnh doanh nghiệp cần những người có khả năng xử lý vấn đề và thích ứng với thực tế vận hành. Theo ông, kiến thức chuyên môn là nền tảng nhưng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu công việc logistics.
Đối với sinh viên và người lao động mới gia nhập ngành, yêu cầu cũng đang thay đổi. Không chỉ biết nghiệp vụ logistics, người lao động còn phải biết sử dụng công nghệ và thích ứng với môi trường vận hành có AI.
Giữ người cũng là bài toán của doanh nghiệp
Đào tạo được người đã khó, giữ được người có kỹ năng còn khó hơn! Tại cửa khẩu, doanh nghiệp phải cạnh tranh lao động có tay nghề trong khi một số kỹ năng đặc thù chưa có nguồn đào tạo sẵn tại địa phương. Nếu không xây dựng được chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc phù hợp, doanh nghiệp có nguy cơ phải liên tục tuyển mới và đào tạo lại.
Đây là lý do phát triển nguồn nhân lực logistics tại cửa khẩu không thể chỉ đặt lên vai cơ sở đào tạo. Doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo cần cùng tham gia xây dựng nguồn nhân lực theo đúng nhu cầu thực tế của thị trường.
Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Lạng Sơn cho biết thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp để hỗ trợ nhân sự theo yêu cầu, đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các đơn vị tại cửa khẩu.
Nếu giải được bài toán này, lợi thế về hoạt động xuất nhập khẩu và hệ thống logistics của Lạng Sơn sẽ có thêm một nền tảng quan trọng để phát huy. Khi đó, nguồn lao động địa phương không chỉ có thêm việc làm mà còn có cơ hội chuyển sang những vị trí có kỹ năng, thu nhập và giá trị gia tăng cao hơn.