Thứ tư 07/10/2026 12:47
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, điện gió ngoài khơi cùng hệ thống lưu trữ năng lượng được kỳ vọng trở thành trụ cột mới của ngành điện Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng hàng trăm GW, yếu tố quyết định vẫn là khung chính sách ổn định, dài hạn và đủ sức hấp dẫn dòng vốn quy mô lớn, đặc biệt từ nhà đầu tư quốc tế.
Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi
Chính sách dài hạn là chìa khóa hút vốn cho điện gió ngoài khơi

Việt Nam đang đối mặt đồng thời nhiều sức ép lớn về năng lượng. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới khiến nhu cầu điện liên tục leo thang. Trong khi đó, các nguồn năng lượng truyền thống như than, thủy điện đang dần bộc lộ giới hạn, cả về tài nguyên lẫn yêu cầu giảm phát thải.

Trong bối cảnh đó, Lê Quang Duyến, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ – Địa chất, nhận định điện gió ngoài khơi và hệ thống lưu trữ năng lượng sẽ trở thành những trụ cột mới của ngành năng lượng Việt Nam trong dài hạn.

Theo ông Duyến, Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.000 km – một lợi thế hiếm có trong khu vực cho phát triển điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Các khu vực ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ, trong đó có Phan Thiết, được đánh giá có chất lượng gió cao, ổn định, phù hợp triển khai các dự án quy mô lớn.

Quy hoạch điện VIII cũng xác định điện gió ngoài khơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nguồn điện quốc gia. Công suất điện gió ngoài khơi dự kiến đạt khoảng 6 GW vào năm 2030 và tăng vọt lên gần 140 GW vào năm 2050. Tỷ trọng nguồn điện này theo đó sẽ tăng từ khoảng 4% năm 2030 lên 16% vào năm 2050, trở thành một trong những trụ cột của hệ thống điện phát thải thấp.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đầy tham vọng này, theo PGS.TS Lê Quang Duyến, yêu cầu tiên quyết là hoàn thiện khung pháp lý cho điện gió ngoài khơi. Trước hết, cần sớm ban hành các nghị định hướng dẫn việc giao khu vực biển phục vụ khảo sát, đồng thời xây dựng quy trình đầu tư riêng cho loại hình điện gió ngoài khơi – vốn có đặc thù rất khác so với điện gió trên bờ hay gần bờ.

Bên cạnh đó, các quy định còn chồng chéo trong các luật liên quan đến điện lực, tài nguyên môi trường biển và hải đảo cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung theo hướng thống nhất, đồng bộ.

“Nếu không có một hành lang pháp lý rõ ràng và nhất quán, việc triển khai các dự án điện gió ngoài khơi sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức, kéo dài thời gian chuẩn bị và làm tăng chi phí cho nhà đầu tư”, ông Duyến nhấn mạnh.

Về cơ chế giá, vị chuyên gia này cho rằng cần xây dựng lộ trình giá điện gió ngoài khơi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường, đồng thời từng bước triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Theo ông, các chính sách ưu đãi ổn định, dài hạn chính là “chìa khóa” để thu hút dòng vốn quy mô lớn, nhất là từ các nhà đầu tư quốc tế vốn rất coi trọng tính dự báo và độ tin cậy của chính sách.

Không chỉ dừng ở chính sách giá, PGS.TS Lê Quang Duyến cho rằng Việt Nam cần “đi trước một bước” trong quy hoạch điện gió ngoài khơi để phát đi tín hiệu rõ ràng cho thị trường. Việc công bố sớm các khu vực phát triển, quy mô công suất và lộ trình triển khai sẽ giúp nhà đầu tư chủ động chuẩn bị nguồn lực, công nghệ và tài chính.

Song song với đó, Việt Nam cần tận dụng các quỹ tài chính khí hậu, nguồn vốn dài hạn và tăng cường hợp tác với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này như Anh, Đan Mạch, Đức hay Trung Quốc. Việc học hỏi mô hình quản lý, cơ chế tài chính và chuỗi cung ứng từ các thị trường đi trước được xem là yếu tố quan trọng để rút ngắn thời gian phát triển.

Theo ông Duyến, một cơ quan đầu mối trực thuộc Chính phủ, có chức năng thống nhất chỉ đạo chiến lược, quy hoạch và phát triển điện gió ngoài khơi, cũng là điều cần thiết. Cùng với đó là việc hình thành các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp mới này.

Một điểm nhấn khác được PGS.TS Lê Quang Duyến đặc biệt nhấn mạnh là vai trò của lưu trữ năng lượng. Theo ông, đây là “cấu phần không thể thiếu” của hệ thống điện hiện đại, có thể vận hành độc lập hoặc gắn với các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời.

Các công nghệ lưu trữ như pin, thủy điện tích năng, lưu trữ nhiệt hay hydrogen cần được đưa đầy đủ vào quy hoạch điện và được nghiên cứu, thử nghiệm thận trọng theo điều kiện Việt Nam. Trong đó, mô hình điện phân hydrogen ngoài khơi hiện vẫn còn hiệu suất thấp, trong khi phương án truyền điện vào bờ để điện phân cần được đánh giá toàn diện trước khi triển khai trên diện rộng.

Ông Duyến cũng kiến nghị cho phép tích hợp hệ thống lưu trữ trong các dự án điện gió ngoài khơi, áp dụng cơ chế khấu hao và ưu đãi cao hơn đối với các dự án có đầu tư lưu trữ. Đồng thời, cần quy hoạch đồng bộ lưới điện, đầu tư hạ tầng cảng biển và thúc đẩy nội địa hóa thiết bị, qua đó giảm chi phí và tăng giá trị gia tăng trong nước.

Từ góc nhìn quốc tế, Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC), đánh giá các cơ chế chính sách trong Nghị quyết 253 phản ánh rõ tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW về tạo đột phá thể chế cho phát triển ngành năng lượng.

Theo tinh thần Nghị quyết 253, các dự án điện gió ngoài khơi sẽ không thực hiện đấu thầu mà được giao trực tiếp. Cụ thể, các dự án giai đoạn 2026–2030 sẽ do Thủ tướng Chính phủ giao, còn giai đoạn 2031–2035 sẽ giao cho các địa phương. Cơ chế này được kỳ vọng sẽ rút ngắn đáng kể thủ tục cấp phép, giúp nhà đầu tư tham gia phát triển dự án nhanh hơn so với trước đây.

“Ngành điện gió ngoài khơi của Việt Nam đã được chuẩn bị và ấp ủ trong nhiều năm. Với các cơ chế mới từ Nghị quyết 253, từ năm 2026 có thể coi là thời điểm ngành điện gió ngoài khơi chính thức được khởi động”, đại diện GWEC nhấn mạnh.

Tin bài khác
WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

Ngân hàng Thế giới (WB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước và là mức cao nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP). Đà tăng được hỗ trợ bởi sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao và đầu tư công, song nền kinh tế vẫn đối mặt với không ít rủi ro từ bên ngoài.
Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Các kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp sau Hội nghị Thường trực Chính phủ ngày 18/7/2026 đã được công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, tạo thêm kênh để cộng đồng doanh nghiệp theo dõi, đánh giá.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ, từng bước tham gia sản xuất và xây dựng chuỗi cung ứng năng lượng tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn.
Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Quảng Ninh dẫn đầu cả nước về tăng trưởng GRDP sau 9 tháng

Với GRDP quý III tăng 15,04%, lũy kế 9 tháng tăng 12,54%, Quảng Ninh đang giữ vị trí dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng, tạo nền tảng để địa phương hướng tới mục tiêu vượt 13% trong năm 2026.
Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Gần 1 triệu tỷ đồng đầu tư công bước vào chặng nước rút

Sau 9 tháng, giải ngân vốn đầu tư công đã đạt 642.961,6 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ năm trước cả về tỷ lệ và giá trị tuyệt đối. Khi quý IV bắt đầu, áp lực hoàn thành kế hoạch cũng đồng thời mở ra một thị trường đáng chú ý cho các doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, thiết bị và dịch vụ liên quan.
Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Xuất nhập khẩu tháng 9 đảo chiều, 9 tháng vẫn nhập siêu gần 19,4 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 9 đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD, song tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

Vốn đầu tư 9 tháng tăng 15,1%, FDI thực hiện lập mức cao nhất 5 năm

9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Hải Phòng tăng tốc quý IV, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng từ 13%

Sau 9 tháng duy trì đà tăng trưởng, Hải Phòng bước vào quý IV với mục tiêu GRDP tăng 14,5% - mức tăng đòi hỏi thành phố phải tháo gỡ nhanh các điểm nghẽn, đẩy mạnh đầu tư công và huy động tối đa các động lực tăng trưởng.
Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Không gian tầm thấp: Từ quản lý hoạt động bay đến một không gian phát triển mới

Kết luận số 99-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia đối với không gian tầm thấp theo hướng thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu và quản trị rủi ro; đồng thời phát triển hạ tầng, công nghệ, nhân lực và hệ sinh thái doanh nghiệp để hình thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật mới.
Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp lập mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục trở thành điểm sáng của nền kinh tế khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Đáng chú ý, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.
GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

GDP Việt Nam 9 tháng tăng 9,01%, công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực chính

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, GDP Việt Nam 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, trong khi khu vực dịch vụ duy trì đà tăng tích cực.
Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Đồng Tháp mở không gian phát triển bằng hợp lực công tư

Diễn đàn tại Đồng Tháp đặt trọng tâm vào đổi mới tư duy, liên kết nguồn lực và hợp lực công tư, hướng tới chuyển lợi thế nông nghiệp, công nghiệp, logistics và thị trường thành chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp.
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026: Việt Nam cần tạo dựng nội lực biển

Từ quản trị, dữ liệu, công nghệ đến tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế, Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 đặt ra yêu cầu chuyển tiềm năng biển thành năng lực thực tế, tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững.
Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Đắk Lắk vượt kịch bản giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng và phản ứng chính sách cho "tháng trọng điểm"

Tính đến 12 giờ ngày 30/9/2026, Đắk Lắk đã ghi nhận dòng vốn đầu tư công giải ngân đạt hơn 7.096,5 tỷ đồng, chính thức cán mốc 101% so với cam kết đăng ký với Bộ Tài chính. Sự bứt phá này cho thấy hiệu quả điều hành sát sao của chính quyền, song áp lực giải ngân 100% cho cả năm vẫn đòi hỏi những chuyển dịch quản trị quyết liệt, không có chỗ cho sự chủ quan.
TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh tăng 17 bậc trên bảng xếp hạng tài chính toàn cầu

TP. Hồ Chí Minh vươn lên vị trí 67 trong bảng xếp hạng Trung tâm Tài chính Toàn cầu, tăng 17 bậc so với kỳ đánh giá tháng 3/2026. Kết quả này cho thấy vị thế tài chính của Thành phố đang được cải thiện, nhưng bài toán tiếp theo là biến thứ hạng thành sức hút dòng vốn thực tế.