![]() |
Mất việc làm không chỉ khiến người lao động gián đoạn thu nhập mà còn đặt ra áp lực tìm kiếm công việc mới, nhất là khi yêu cầu tuyển dụng và kỹ năng nghề nghiệp liên tục thay đổi. Tại Đà Nẵng, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đang được triển khai theo hướng kết hợp hỗ trợ tài chính với tư vấn nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và giới thiệu việc làm.
Cách tiếp cận này góp phần giảm thời gian thất nghiệp, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Theo số liệu tổng hợp của Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố Đà Nẵng, trong 5 tháng đầu năm 2026, đơn vị tiếp nhận 12.117 hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Trong đó, 10.372 người đủ điều kiện và được ban hành quyết định hưởng trợ cấp; 145 trường hợp bị hủy quyết định hưởng.
Những con số này phản ánh nhu cầu tiếp cận chính sách BHTN của người lao động, đồng thời cho thấy khối lượng công việc đáng kể trong quá trình tiếp nhận, thẩm định và giải quyết chế độ.
Trước đó, trong năm 2025, Trung tâm đã tiếp nhận, giải quyết hàng chục nghìn hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, tư vấn việc làm cho hàng trăm nghìn lượt người lao động và triển khai các hoạt động hỗ trợ học nghề, kết nối tuyển dụng.
Tuy nhiên, số hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp không đồng nghĩa với tổng số người thất nghiệp trên địa bàn. Đây là nhóm lao động có nhu cầu giải quyết chế độ theo quy định, trong khi thị trường lao động còn bao gồm nhiều nhóm lao động khác chưa hoặc không thuộc diện hưởng BHTN.
![]() |
Điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai chính sách tại Đà Nẵng là hoạt động giải quyết trợ cấp được gắn với tư vấn và giới thiệu việc làm.
Thay vì chỉ tiếp nhận hồ sơ, Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố duy trì các phiên giao dịch việc làm định kỳ hằng tuần, tạo điều kiện để người lao động tiếp cận thông tin tuyển dụng và gặp gỡ doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhân lực.
Đối với người vừa mất việc, việc được tư vấn sớm có ý nghĩa quan trọng. Thông qua đánh giá kinh nghiệm, trình độ chuyên môn và nhu cầu tìm việc, người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp hoặc tham gia đào tạo để chuyển đổi nghề nghiệp.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hệ thống dịch vụ việc làm công cũng là một kênh tuyển dụng đáng quan tâm. Thông tin về vị trí tuyển dụng, yêu cầu kỹ năng và điều kiện làm việc được kết nối với nhóm lao động đang tìm việc, qua đó góp phần giảm chi phí tìm kiếm nhân sự.
Tuy nhiên, hiệu quả kết nối không chỉ phụ thuộc vào số lượng phiên giao dịch việc làm mà còn ở khả năng giới thiệu đúng người, đúng vị trí và duy trì việc làm sau tuyển dụng.
Để đáp ứng yêu cầu thực hiện chính sách, Trung tâm hiện có 56 viên chức và người lao động, trong đó 38 nữ; 6 người có trình độ thạc sĩ và 50 người có trình độ đại học. Riêng năm 2025, đơn vị tổ chức 4 lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về BHTN.
Việc nâng cao năng lực đội ngũ được xem là yêu cầu cần thiết khi chính sách ngày càng gắn chặt với công nghệ, dữ liệu lao động và hoạt động tư vấn nghề nghiệp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện BHTN tại Đà Nẵng vẫn phát sinh một số vướng mắc, chủ yếu liên quan đến dữ liệu, hạ tầng công nghệ và điều kiện phục vụ người lao động.
Theo phản ánh từ thực tiễn triển khai, dữ liệu quá trình đóng BHTN trên Cổng Dịch vụ công quốc gia có thời điểm chưa đầy đủ hoặc chưa được cập nhật kịp thời. Một số trường hợp chậm xác nhận quá trình đóng bảo hiểm, khiến việc hoàn thiện hồ sơ gặp khó khăn.
Tình trạng hệ thống trực tuyến gián đoạn cũng ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận, xử lý thủ tục. Với người lao động đang mất việc, những chậm trễ này có thể làm tăng thời gian chờ giải quyết chế độ trong giai đoạn thu nhập bị gián đoạn.
Một khó khăn khác đến từ khả năng tiếp cận công nghệ không đồng đều. Trong khi nhiều lao động trẻ đã quen với các nền tảng số, một bộ phận lao động phổ thông vẫn gặp trở ngại khi đăng nhập, kê khai thông tin hoặc nộp hồ sơ trực tuyến.
Điều kiện cơ sở vật chất tại một số chi nhánh cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ. Một số địa điểm còn chật hẹp, máy tính và thiết bị đã cũ, cấu hình thấp. Tại chi nhánh Tam Kỳ và Điện Bàn, hệ thống xếp hàng tự động còn thiếu, ảnh hưởng đến việc tổ chức tiếp nhận hồ sơ khi số người đến giao dịch tăng cao.
Những hạn chế này cho thấy chuyển đổi số không đơn thuần là chuyển thủ tục từ giấy sang môi trường điện tử. Muốn người lao động thực sự được hưởng lợi, dữ liệu phải chính xác, liên thông và cập nhật kịp thời; hệ thống cần vận hành ổn định, đồng thời duy trì hình thức hỗ trợ trực tiếp đối với người chưa thành thạo công nghệ.
Đặc biệt, việc đồng bộ thông tin giữa cơ quan bảo hiểm xã hội, đơn vị sử dụng lao động và trung tâm dịch vụ việc làm có ý nghĩa quan trọng. Khi dữ liệu quá trình đóng, chấm dứt hợp đồng và tình trạng việc làm được cập nhật đầy đủ, việc xác định điều kiện hưởng trợ cấp sẽ thuận lợi hơn, đồng thời hạn chế nguy cơ chi trả sai chế độ.
Về phía doanh nghiệp, trách nhiệm đóng BHTN đầy đủ, kịp thời và hoàn tất các thủ tục liên quan khi người lao động nghỉ việc không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi an sinh của người lao động.
Trong năm 2026, Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố Đà Nẵng xác định tiếp tục nâng cao chất lượng giải quyết chế độ, bảo đảm đúng quy định và thời hạn; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền chính sách và phối hợp với Bảo hiểm xã hội thành phố.
Cùng với đó, hoạt động tư vấn, hỗ trợ học nghề và kết nối tuyển dụng cần được chú trọng để người lao động không chỉ nhận trợ cấp mà còn có cơ hội tìm được công việc mới phù hợp hơn.
Về lâu dài, hiệu quả của chính sách BHTN không nên chỉ được đánh giá bằng số hồ sơ giải quyết hay kinh phí chi trả. Những chỉ tiêu như tỷ lệ người hưởng trợ cấp tìm được việc làm, thời gian quay lại thị trường lao động và số người có việc làm sau đào tạo nghề cũng cần được quan tâm.
Từ thực tiễn Đà Nẵng, có thể thấy BHTN đang đảm nhiệm hai chức năng gắn bó chặt chẽ: bảo đảm thu nhập trong thời gian mất việc và hỗ trợ người lao động tái gia nhập thị trường. Khi hai chức năng này được triển khai hiệu quả, chính sách không chỉ góp phần ổn định đời sống người lao động mà còn giúp doanh nghiệp duy trì nguồn cung nhân lực, giảm những đứt gãy trên thị trường lao động.