Thứ sáu 09/10/2026 04:12
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Nghiên cứu - Dữ liệu

Bảo hiểm thất nghiệp: Quyền lợi người lao động không thể chậm vì thủ tục

Luật Việc làm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP đặt ra yêu cầu giải quyết bảo hiểm thất nghiệp kịp thời, thuận tiện hơn. Nhưng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi người lao động bớt phải đi lại, nhận trợ cấp đúng hạn và sớm tìm được công việc mới.
Bảo hiểm thất nghiệp: Quyền lợi người lao động không thể chậm vì thủ tục

Ngày chấm dứt hợp đồng lao động cũng là ngày nguồn thu nhập thường xuyên của một gia đình có thể bị cắt đứt. Tiền thuê nhà đến hạn, học phí của con phải đóng, các khoản sinh hoạt vẫn tiếp tục. Trong khi đó, người vừa mất việc chưa biết bao giờ có thể nhận lương trở lại.

Với họ, trợ cấp thất nghiệp không đơn thuần là một khoản tiền được giải quyết theo hồ sơ. Đó là nguồn tài chính để duy trì cuộc sống trong thời gian tìm việc.

Một hồ sơ được xử lý đúng quy trình nhưng kéo dài không cần thiết vẫn có thể khiến người lao động rơi vào khó khăn. Bởi tiền trợ cấp đến muộn không thể giải quyết những khoản chi đã quá hạn.

Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đặt ra yêu cầu thực hiện bảo hiểm thất nghiệp đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm quyền lợi kịp thời và đầy đủ. Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm của các cơ quan trong giải quyết, chi trả chế độ.

Vấn đề đặt ra không chỉ là quy định đã thay đổi đến đâu, mà người lao động có thực sự được hưởng lợi từ những thay đổi ấy hay không.

Trợ cấp đúng hạn là trách nhiệm, không phải thành tích

Theo thông tin đăng tải trên Báo Kiểm toán ngày 30/1/2026, chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong năm 2025 vẫn được triển khai thông suốt, kịp thời trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Kết quả này góp phần bảo đảm an sinh cho người lao động mất việc.

Việc duy trì hoạt động giải quyết chế độ trong giai đoạn tổ chức bộ máy thay đổi là yêu cầu quan trọng. Tuy nhiên, sự thông suốt ở cấp hệ thống cần được kiểm chứng bằng trải nghiệm của từng người thụ hưởng.

Một lao động vừa mất việc phải đi lại nhiều lần để bổ sung thông tin, chờ xác nhận quá trình đóng bảo hiểm hoặc không biết chính xác thời điểm nhận trợ cấp sẽ khó cảm nhận được hiệu quả cải cách.

Theo Luật Việc làm 2025, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi thất nghiệp, được xác định theo quy định pháp luật.

Chẳng hạn, nếu mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là 8 triệu đồng mỗi tháng, người lao động có thể được hưởng 4,8 triệu đồng/tháng, với điều kiện đáp ứng quy định về thời gian đóng, mức hưởng tối đa và các điều kiện liên quan.

Khoản tiền này có thể không thay thế hoàn toàn thu nhập trước khi mất việc, nhưng giúp người lao động giảm áp lực tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP làm rõ cách xác định sáu tháng tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất, kể cả trường hợp quá trình tham gia có thời gian gián đoạn. Đây là điểm đáng chú ý khi người lao động ngày càng có xu hướng thay đổi nơi làm việc, chuyển ngành nghề hoặc tạm ngừng công việc.

Đặc biệt, Nghị định quy định trách nhiệm chi trả trợ cấp thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn năm ngày làm việc, tính từ các mốc thời gian được xác định theo quy định.

Cần nhấn mạnh, đây là thời hạn chi trả ở giai đoạn tương ứng, không phải cam kết rằng người lao động nộp hồ sơ hôm nay sẽ nhận tiền sau năm ngày.

Trước khi được chi trả, hồ sơ vẫn phải trải qua các bước tiếp nhận, xem xét điều kiện và ban hành quyết định hưởng trợ cấp.

Sự phân biệt này rất quan trọng. Nếu truyền thông không đầy đủ, người lao động có thể hiểu sai thời hạn, dẫn đến khiếu nại hoặc mất niềm tin khi không nhận được tiền như kỳ vọng.

Nhưng quy định rõ thời hạn mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là trách nhiệm xử lý phải được xác định ở từng khâu, từ tổ chức dịch vụ việc làm công đến cơ quan bảo hiểm xã hội.

Nếu hồ sơ chậm do dữ liệu chưa thống nhất, cơ quan nào phải xác minh? Nếu quá trình đóng bảo hiểm có sai lệch, ai chịu trách nhiệm điều chỉnh? Khi người lao động phản ánh việc chi trả chậm, đơn vị nào phải giải thích?

Những câu hỏi ấy cần có câu trả lời cụ thể, thay vì để người lao động tự đi lại giữa các cơ quan.

Trách nhiệm của doanh nghiệp cũng không thể đứng ngoài quy trình này.

Người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ, đúng đối tượng, đúng mức; quản lý chính xác thông tin tiền lương, thời gian làm việc và thực hiện các thủ tục liên quan khi chấm dứt hợp đồng.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc quản lý bảo hiểm đôi khi được giao cho bộ phận kế toán hoặc nhân sự kiêm nhiệm. Một sai sót về dữ liệu có thể kéo theo nhiều lần điều chỉnh, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động.

Ở góc độ quản trị doanh nghiệp, việc hoàn thành trách nhiệm bảo hiểm không chỉ nhằm tránh vi phạm pháp luật. Đây còn là cách hạn chế tranh chấp và giữ uy tín với người lao động, kể cả khi hai bên không còn quan hệ làm việc.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP cũng làm rõ trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo điều kiện luật định.

Quy định này tạo thêm căn cứ để xem xét quyền lợi trong những tình huống doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc ngừng hoạt động. Tuy nhiên, việc giải quyết quyền hưởng không đồng nghĩa với xóa bỏ nghĩa vụ đóng bảo hiểm của doanh nghiệp.

Bảo vệ người lao động phải đi cùng xác định và xử lý trách nhiệm của người sử dụng lao động theo pháp luật.

Số hóa hồ sơ chưa đủ, phải giúp người lao động sớm có việc làm

Bảo hiểm thất nghiệp: Quyền lợi người lao động không thể chậm vì thủ tục

Cải cách thủ tục bảo hiểm thất nghiệp đang có thêm điều kiện thuận lợi từ việc phát triển dịch vụ công trực tuyến và kết nối dữ liệu.

Theo thông tin Báo Kiểm toán đăng tải ngày 30/1/2026, việc chuẩn hóa quy trình theo Luật Việc làm 2025 tạo điều kiện thực hiện trực tuyến toàn trình đối với những thủ tục đủ điều kiện, qua đó giảm thời gian và chi phí đi lại cho người lao động.

Tuy nhiên, số hóa không có nghĩa là chuyển toàn bộ biểu mẫu giấy lên màn hình máy tính.

Nếu người lao động đã kê khai thông tin trực tuyến nhưng vẫn phải đến cơ quan tiếp nhận để cung cấp lại những dữ liệu mà hệ thống có thể khai thác hợp pháp, hiệu quả cải cách sẽ bị hạn chế.

Nếu thông tin giữa cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức dịch vụ việc làm công và doanh nghiệp không thống nhất, người dân vẫn có thể phải bổ sung hồ sơ nhiều lần.

Vì vậy, trọng tâm chuyển đổi số phải là chuẩn hóa dữ liệu và tổ chức lại quy trình giải quyết.

Thông tin về quá trình đóng bảo hiểm, tiền lương và tình trạng hưởng chế độ cần được quản lý chính xác, kết nối theo thẩm quyền và bảo đảm an toàn dữ liệu cá nhân.

Đồng thời, phải duy trì kênh hỗ trợ trực tiếp cho lao động lớn tuổi, người có kỹ năng công nghệ hạn chế hoặc sinh sống ở địa bàn khó khăn.

Không thể lấy tỷ lệ hồ sơ trực tuyến làm thước đo duy nhất nếu một bộ phận người lao động gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ.

Một vấn đề khác là kiểm soát gian lận, trục lợi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Việc xác minh điều kiện hưởng, đối chiếu dữ liệu và xử lý hồ sơ bất thường là cần thiết để bảo vệ nguồn quỹ chung. Nhưng kiểm soát rủi ro không nên đồng nghĩa với việc áp dụng thêm các yêu cầu giấy tờ không cần thiết đối với mọi người.

Cách quản lý hiệu quả hơn là tăng cường đối chiếu dữ liệu, phát hiện những trường hợp có dấu hiệu bất thường và kiểm tra theo mức độ rủi ro.

Người tham gia đủ điều kiện phải được giải quyết thuận lợi; hành vi gian lận phải được phát hiện và xử lý đúng quy định.

Quan trọng hơn, hiệu quả của bảo hiểm thất nghiệp không thể chỉ được đo bằng số hồ sơ đã giải quyết hoặc tổng kinh phí trợ cấp đã chi trả.

Luật Việc làm 2025 tiếp tục xác định tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề là những chế độ của bảo hiểm thất nghiệp.

Điều này đòi hỏi tổ chức dịch vụ việc làm công phải thực hiện vai trò kết nối thị trường lao động, thay vì chỉ tiếp nhận hồ sơ và theo dõi việc thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng.

Người mất việc cần được đánh giá kỹ năng, tư vấn ngành nghề phù hợp và tiếp cận thông tin tuyển dụng thực tế.

Đối với lao động trung niên, lao động phổ thông hoặc người có kỹ năng không còn phù hợp với công nghệ mới, hoạt động tư vấn phải gắn với cơ hội đào tạo lại.

Với doanh nghiệp, kết nối tuyển dụng hiệu quả giúp giảm thời gian tìm kiếm nhân sự, nhất là những vị trí đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng cụ thể.

Một giám đốc doanh nghiệp tuyển dụng lao động sẽ quan tâm trước hết đến khả năng đáp ứng công việc của ứng viên, chứ không chỉ số lượng hồ sơ được trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu.

Đây là lý do cơ quan dịch vụ việc làm cần theo dõi chất lượng kết nối sau tuyển dụng, thay vì dừng lại ở số lượt tư vấn.

Người lao động có được nhận vào làm việc hay không? Công việc có phù hợp với kỹ năng và mức thu nhập kỳ vọng? Sau ba hoặc sáu tháng, họ có tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp?

Những chỉ tiêu ấy phản ánh rõ hơn giá trị của chính sách.

Cùng với đó, việc đánh giá cải cách thủ tục cần bổ sung các chỉ số về thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, tỷ lệ chi trả đúng hạn và mức độ hài lòng của người thụ hưởng.

Một hệ thống có thể xử lý hàng trăm nghìn hồ sơ mỗi năm nhưng vẫn cần cải thiện nếu người lao động phải mất nhiều thời gian để hoàn tất thủ tục hoặc không nhận được hỗ trợ tìm việc phù hợp.

Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu đổi mới tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ và bảo đảm quyền lợi người tham gia.

Luật Việc làm 2025 tạo thêm cơ sở pháp lý để thực hiện yêu cầu đó. Phần còn lại phụ thuộc vào năng lực tổ chức, chất lượng dữ liệu và trách nhiệm của từng cơ quan, doanh nghiệp.

Với người vừa mất việc, nhận trợ cấp đúng hạn giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt. Nhưng có được công việc mới mới là giải pháp để khôi phục thu nhập lâu dài.

Bảo hiểm thất nghiệp chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi hai nhiệm vụ ấy được thực hiện đồng thời: không để người lao động chờ đợi quyền lợi vì thủ tục và không để họ đơn độc trên hành trình tìm việc mới.

Tin bài khác
Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Bộ Nội vụ đề xuất rút thời hiệu khiếu nại lần đầu trong lĩnh vực lao động, an toàn, vệ sinh lao động và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ 180 ngày xuống còn 90 ngày, nhằm thống nhất với quy định của Luật Khiếu nại hiện hành.
Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

30 doanh nghiệp được vinh danh “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026 không chỉ là những đơn vị thực hiện tốt chính sách lao động, mà còn là các mô hình tiêu biểu về xây dựng môi trường làm việc nhân văn, đối thoại hiệu quả và phát triển bền vững dựa trên nguồn nhân lực chất lượng.
Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thành công ty cổ phần, người lao động không chỉ được tiếp tục hưởng các chế độ về bảo hiểm mà còn có cơ hội mua cổ phần với giá ưu đãi, mua thêm cổ phần theo thời gian cam kết làm việc và được hưởng một số quyền lợi tài chính khác.
Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

20 doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch việc làm tháng 10 tại Đồng Nai đang có nhu cầu tuyển gần 5.000 lao động, chủ yếu ở các vị trí sản xuất trực tiếp, kỹ thuật và lao động có tay nghề, trong bối cảnh đơn hàng cuối năm có xu hướng gia tăng.
Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Sinh viên mất nhiều năm học kiến thức, doanh nghiệp tiếp tục mất thêm thời gian và chi phí đào tạo khi tuyển người mới. Khoảng cách giữa giảng đường và công việc thực tế đang tạo ra một vòng quay lãng phí, đòi hỏi nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên cùng thay đổi.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

Thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh đang cho thấy độ lệch đáng chú ý giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung nhân lực. Trong tháng 9/2026, doanh nghiệp cần hơn 26.500 lao động nhưng chỉ có 17.686 người tìm việc; 21/27 nhóm ngành ghi nhận tình trạng thiếu nguồn cung so với nhu cầu.
Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Những tháng cuối năm, nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội tiếp tục gia tăng ở nhiều lĩnh vực, từ xây dựng, sản xuất đến bán lẻ, dịch vụ và kinh doanh trên nền tảng số. Cùng với mở rộng cơ hội việc làm, nhiều doanh nghiệp đưa ra chính sách về thu nhập, bảo hiểm và phúc lợi để thu hút, giữ chân người lao động.
Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Hội nghị trao đổi kỹ thuật giữa Bộ Nội vụ Việt Nam và Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào tập trung chia sẻ kinh nghiệm quản lý lao động trong và ngoài nước, phát triển thị trường lao động, an toàn vệ sinh lao động và số hóa dữ liệu, qua đó cụ thể hóa các cam kết hợp tác giữa hai Bộ.
Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị hoàn thiện quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm người lao động, đặc biệt người học nghề, tập nghề và thử việc, có đủ kiến thức, kỹ năng trước khi bắt đầu công việc.
7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định 7 nhóm công việc không được phép đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc, trong đó có công việc mát-xa, săn bắt thú dữ và các công việc thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc hại. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Mật độ dân cư cao, tập trung đông trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu cùng hệ thống doanh nghiệp và dịch vụ phát triển tạo lợi thế đặc biệt cho đô thị lõi Hà Nội trong kết nối cung - cầu lao động. Vấn đề đặt ra là làm thế nào biến lợi thế về nguồn nhân lực trẻ thành những cơ hội việc làm ổn định, phù hợp chuyên môn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp.
Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Gần 300 lao động Hà Tĩnh từng làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS và thực tập sinh tại Nhật Bản theo chương trình IM Japan đã tham gia hội chợ việc làm ngày 18/9. Năm doanh nghiệp mang đến 3.800 vị trí tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực, tạo thêm lựa chọn việc làm cho lực lượng lao động có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài khi trở về địa phương.
Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Phiên giao dịch việc làm tại bốn xã của Hà Nội ngày 19/9 dự kiến tuyển 1.276 lao động, trong đó 321 vị trí có thu nhập từ 15 triệu đồng mỗi tháng trở lên.
Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Sáng 15/9, Công ty Cổ phần Vega City ký kết hợp tác với Trường Đại học Nha Trang về phát triển du lịch, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hợp tác hướng đến tăng cường quảng bá điểm đến, mở rộng cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các dự án du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí tại Nha Trang.
Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài đã giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập ngay tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%. Những con số này được công bố tại hội thảo quốc gia về chỉ tiêu phát triển bền vững 10.7.1, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu trong thúc đẩy di cư lao động an toàn, hợp pháp và có trật tự.