Thứ bảy 14/03/2026 10:26
Hotline: 024.355.63.010
Bất động sản

An ninh năng lượng và những vấn đề liên quan

23/12/2020 11:21
Tại Việt Nam, bảo đảm an ninh năng lượng được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia...
Ảnh minh họa
Tại Việt Nam, bảo đảm an ninh năng lượng được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Ảnh minh họa.

Chủ đề an ninh năng lượng bắt đầu được khởi nguồn quan tâm sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ từ những năm 1970 của thế kỷ 20 và trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, khái niệm an ninh năng lượng đã phát triển từ khái niệm an ninh năng lượng truyền thống sang khái niệm an ninh năng lượng phi truyền thống. Theo cách tiếp cận phi truyền thống, an ninh năng lượng được xét trong bối cảnh rộng hơn, không chỉ tập trung vào các mối đe dọa an ninh gây ra bởi sự gián đoạn đột ngột, sự tan rã và sự biến động giá cả từ các thao túng của những thỏa thuận cung cấp năng lượng hiện có như cách tiếp cận an ninh năng lượng truyền thống mà bao gồm cả việc tiêu thụ, sự khan hiếm và phân bổ tài nguyên năng lượng không cân bằng, cũng như việc xử lý các thảm họa, nhất là về môi trường. Theo đó, có 4 yếu tố quan trọng trong nội hàm khái niệm về an ninh năng lượng, đó là: (1) Khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng đối với nền kinh tế; (2) Khả năng tiếp cận và đa dạng các nguồn cung cấp năng lượng; (3) Chi phí cho các hoạt động trong hệ thống năng lượng; (4) Việc đảm bảo môi trường bền vững từ các hoạt động năng lượng. Như vậy, bảo đảm an ninh năng lượng được tiếp cận đầy đủ các yếu tố thuộc cả phía cung và cầu năng lượng.

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, việc đảm bảo an ninh năng lượng trên phương diện quốc gia chính là sự duy trì liên tục, ổn định và đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng năng lượng với mức giá cả chấp nhận được đối với quốc gia đó. Trong đó các vấn đề về giá cả và sự đa dạng về nguồn cung cấp là những yếu tố có tính quyết định đến an ninh năng lượng xét trên góc độ lợi ích quốc gia.

Báo cáo của tổ chức đánh giá năng lượng toàn cầu (GEA) trên 130 quốc gia cho thấy, phần lớn các quốc gia rất dễ bị tổn thương, hiện đang đối mặt với thách thức về bảo đảm an ninh năng lượng. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 15-20 quốc gia xuất khẩu năng lượng, chủ yếu là dầu khí, phần lớn còn lại là các quốc gia nhập khẩu hoặc tự túc về năng lượng. Có hơn 3 tỷ người sống ở 83 quốc gia nhập khẩu hơn 75% sản phẩm dầu mà họ tiêu thụ. Trên 80% các nước có thu nhập thấp đều nhập khẩu năng lượng và chi phí nhập khẩu năng lượng vượt quá 20% thu nhập xuất khẩu ở 35 quốc gia với 2,5 tỷ dân và vượt quá 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở 15 quốc gia khác với 200 triệu dân. Nhu cầu về dầu mỏ và các sản phẩm chiếm 90% năng lượng ở các quốc gia và có xu hướng tăng lên, đặc biệt là châu Á; gần 650 triệu người sống ở 32 quốc gia Á- Âu nhập khẩu hơn 75% lượng khí đốt; hơn 700 triệu người sống ở 31 quốc gia sử dụng một tỷ lệ đáng kể điện năng chỉ từ một hoặc hai đập lớn; có 20 trong số 31 quốc gia có chương trình điện hạt nhân đã không bắt đầu xây dựng một lò phản ứng mới trong 20 năm qua và ở 19 quốc gia tuổi trung bình của các nhà máy điện hạt nhân là trên 25 năm; ở gần 3/4 các quốc gia có thu nhập thấp, thời gian mất điện trung bình hơn 24 giờ mỗi tháng và ở khoảng 1/6 các quốc gia thu nhập thấp, thời gian mất điện trung bình trên 144 giờ (sáu ngày) một tháng...

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

TS. Nguyễn Đức Hiển cho biết: Tại Việt Nam, bảo đảm an ninh năng lượng được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về “Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã nêu rõ quan điểm “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, đồng thời là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Ưu tiên phát triển năng lượng nhanh và bền vững, đi trước một bước, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; đồng thời, Nghị quyết đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.Ngày 30/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 136 về phát triển bền vững, trong đó mục tiêu số 7 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 có nội dung về bảo đảm an ninh năng lượng, cụ thể là: đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và có khả năng chi trả cho tất cả mọi người.

Chủ đề an ninh năng lượng bắt đầu được khởi nguồn quan tâm sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ từ những năm 1970 của thế kỷ 20 và trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, khái niệm an ninh năng lượng đã phát triển từ khái niệm an ninh năng lượng truyền thống sang khái niệm an ninh năng lượng phi truyền thống. Theo cách tiếp cận phi truyền thống, an ninh năng lượng được xét trong bối cảnh rộng hơn, không chỉ tập trung vào các mối đe dọa an ninh gây ra bởi sự gián đoạn đột ngột, sự tan rã và sự biến động giá cả từ các thao túng của những thỏa thuận cung cấp năng lượng hiện có như cách tiếp cận an ninh năng lượng truyền thống mà bao gồm cả việc tiêu thụ, sự khan hiếm và phân bổ tài nguyên năng lượng không cân bằng, cũng như việc xử lý các thảm họa, nhất là về môi trường. Theo đó, có 4 yếu tố quan trọng trong nội hàm khái niệm về an ninh năng lượng, đó là: (1) Khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng đối với nền kinh tế; (2) Khả năng tiếp cận và đa dạng các nguồn cung cấp năng lượng; (3) Chi phí cho các hoạt động trong hệ thống năng lượng; (4) Việc đảm bảo môi trường bền vững từ các hoạt động năng lượng. Như vậy, bảo đảm an ninh năng lượng được tiếp cận đầy đủ các yếu tố thuộc cả phía cung và cầu năng lượng.

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, việc đảm bảo an ninh năng lượng trên phương diện quốc gia chính là sự duy trì liên tục, ổn định và đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng năng lượng với mức giá cả chấp nhận được đối với quốc gia đó. Trong đó các vấn đề về giá cả và sự đa dạng về nguồn cung cấp là những yếu tố có tính quyết định đến an ninh năng lượng xét trên góc độ lợi ích quốc gia.

Báo cáo của tổ chức đánh giá năng lượng toàn cầu (GEA) trên 130 quốc gia cho thấy, phần lớn các quốc gia rất dễ bị tổn thương, hiện đang đối mặt với thách thức về bảo đảm an ninh năng lượng. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 15-20 quốc gia xuất khẩu năng lượng, chủ yếu là dầu khí, phần lớn còn lại là các quốc gia nhập khẩu hoặc tự túc về năng lượng. Có hơn 3 tỷ người sống ở 83 quốc gia nhập khẩu hơn 75% sản phẩm dầu mà họ tiêu thụ. Trên 80% các nước có thu nhập thấp đều nhập khẩu năng lượng và chi phí nhập khẩu năng lượng vượt quá 20% thu nhập xuất khẩu ở 35 quốc gia với 2,5 tỷ dân và vượt quá 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở 15 quốc gia khác với 200 triệu dân. Nhu cầu về dầu mỏ và các sản phẩm chiếm 90% năng lượng ở các quốc gia và có xu hướng tăng lên, đặc biệt là châu Á; gần 650 triệu người sống ở 32 quốc gia Á-Âu nhập khẩu hơn 75% lượng khí đốt; hơn 700 triệu người sống ở 31 quốc gia sử dụng một tỷ lệ đáng kể điện năng chỉ từ một hoặc hai đập lớn; có 20 trong số 31 quốc gia có chương trình điện hạt nhân đã không bắt đầu xây dựng một lò phản ứng mới trong 20 năm qua và ở 19 quốc gia tuổi trung bình của các nhà máy điện hạt nhân là trên 25 năm; ở gần 3/4 các quốc gia có thu nhập thấp, thời gian mất điện trung bình hơn 24 giờ mỗi tháng và ở khoảng 1/6 các quốc gia thu nhập thấp, thời gian mất điện trung bình trên 144 giờ (sáu ngày) một tháng.…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa.

TS. Nguyễn Đức Hiển cho biết: Tại Việt Nam, bảo đảm an ninh năng lượng được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về “Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã nêu rõ quan điểm “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, đồng thời là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Ưu tiên phát triển năng lượng nhanh và bền vững, đi trước một bước, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; đồng thời, Nghị quyết đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.Ngày 30/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 136 về phát triển bền vững, trong đó mục tiêu số 7 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 có nội dung về bảo đảm an ninh năng lượng, cụ thể là: đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn năng lượng bền vững, đáng tin cậy và có khả năng chi trả cho tất cả mọi người.

Thực tiễn phát triển năng lượng quốc gia từ năm 2007 đến nay cho thấy, mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia còn nhiều thách thức: các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu, cơ cấu đang bị mất cân đối, áp lực phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn; một số chỉ tiêu bảo đảm an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi (bao gồm các chỉ tiêu như: (1) Tỷ số trữ lượng và sản xuất than, dầu và khí tự nhiên ngày càng giảm; (2) Sự phụ thuộc vào nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên ngày càng tăng; (3) Tỷ trọng chi phí nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên trong tổng thu nhập quốc nội ngày càng tăng. Từ năm 2015, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng và xu hướng này ngày càng tăng lên nhanh trong dài hạn); các mối đe dọa liên quan đến an ninh năng lượng ngày càng lớn.

Nguyên nhân chủ yếu là do tài nguyên năng lượng sơ cấp về thủy điện về cơ bản đã khai thác hết; sản lượng dầu và khí ở một số mỏ lớn sau thời gian dài khai thác đã suy giảm nhanh, việc phát triển mỏ mới trên Biển Đông gặp nhiều khó khăn; tuy trữ lượng than còn nhiều nhưng chưa khai thác triệt để do công nghệ còn lạc hậu và điều kiện khai thác ngày càng khó khăn làm tăng giá thành; một số dự án nguồn điện chưa đưa vào vận hành do chậm tiến độ và chậm khởi công so với quy hoạch, hoặc dừng triển khai; chưa có một chiến lược và chính sách cụ thể rõ ràng để bảo đảm khả năng tiếp cận được các nguồn năng lượng có khả năng cung cấp dài hạn, có độ tin cậy cao, giá thành hợp lý; giá năng lượng còn chưa theo cơ chế thị trường; khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế chưa chú trọng đúng mức đến vấn đề cung cấp năng lượng dẫn đến hệ số đàn hồi năng lượng cao…

Nghị quyết 55 đã đề ra 6 nhóm nhiệm vụ và giải pháp lớn để tăng cường đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, cụ thể là:

Hoàn thiện thể chế bảo đảm thực hiện tốt chính sách vĩ mô của Nhà nước đối với quy hoạch, phát triển và vận hành hệ thống năng lượng quốc gia;

Chuyển dịch năng lượng và thực hiện dữ trự năng lượng quốc gia: phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hoá các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng hoá thạch trong nước, chú trọng mục tiêu bình ổn, điều tiết và yêu cầu dự trữ năng lượng quốc gia;

Cơ cấu lại khu vực tiêu thụ năng lượng gắn với sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: cơ cấu lại các ngành tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là khu vực đầu tư nước ngoài để giảm thiểu cường độ năng lượng. Có chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp tiêu thụ ít năng lượng và có hiệu quả về kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, cần phải xem sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường là quốc sách quan trọng và trách nhiệm của toàn xã hội. Tăng cường kiểm toán năng lượng; xây dựng cơ chế, chính sách đồng bộ, chế tài đủ mạnh và khả thi để khuyến khích đầu tư và sử dụng các công nghệ, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường, góp phần thúc đẩy năng suất lao động và đổi mới mô hình tăng trưởng;

Nâng cao nội lực, tăng cường tính tự chủ trong ngành năng lượng: chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại;

Thu hút các nguồn lực trong phát triển năng lượng gắn với phát triển thị trường năng lượng: cần cơ cấu lại toàn diện các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng theo hướng tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi, có thế mạnh; tạo lập môi trường thuận lợi, minh bạch; công khai quy hoạch, danh mục các dự án đầu tư, xoá bỏ mọi rào cản để thu hút, khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư, phát triển các dự án năng lượng trong và ngoài nước. Để thu hút được các nguồn lực cho phát triển năng lượng cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái tạo, kết nối với thị trường khu vực và thế giới. Xoá bỏ mọi rào cản để bảo đảm giá năng lượng minh bạch do thị trường quyết định;

Thực hiện chính sách đối ngoại năng lượng: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tích cực, chủ động xây dựng các đối tác chiến lược để thực hiện mục tiêu nhập khẩu năng lượng trong dài hạn và đầu tư tài nguyên năng lượng ở nước ngoài; Thực hiện chính sách đối ngoại năng lượng linh hoạt, hiệu quả, bình đẳng, cùng có lợi. Mở rộng và làm sâu sắc hơn hợp tác năng lượng với các đối tác chiến lược, đối tác quan trọng; Khẩn trương xây dựng chiến lược nhập khẩu năng lượng dài hạn song song với khuyến khích đầu tư, khai thác tài nguyên năng lượng ở nước ngoài để góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư dự án năng lượng ở nước ngoài, trước hết là với các dự án nguồn điện tại một số nước láng giềng để chủ động nhập khẩu điện về Việt Nam. Mở rộng quan hệ đối tác với các công ty đầu tư năng lượng, phát triển công nghệ năng lượng tiên tiến…

Chúng ta cũng cần làm rõ phương pháp, cách tiếp cận phù hợp trong đánh giá mức độ bảo đảm an ninh năng lượng của Việt Nam. Thực tế, Việt Nam hiện nay mới bắt đầu nghiên cứu có tính tổng thể về bài toán đánh giá mức độ đảm bảo an ninh năng lượng. Trong điều kiện hệ thống năng lượng cũng như nền kinh tế Việt Nam có những đặc điểm riêng, cần thiết phải xây dựng cơ sở phương pháp luận và mô hình mô phỏng hệ thống năng lượng Việt Nam với các dấu hiệu phù hợp với điều kiện tự nhiên và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp đánh giá mức độ đảm bảo an ninh năng lượng được xây dựng bởi các tổ chức và các nước khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổ chức năng lượng quốc tế (IEA) đánh giá dựa trên 8 dấu hiệu đơn lẻ và 5 dấu hiệu hợp nhất, trong đó 8 dấu hiệu đơn lẻ bao gồm: (1) về nguồn tài nguyên năng lượng, (2) tỷ lệ dự trữ/sản xuất, (3) sự đa dạng, (4) sự phụ thuộc nhập khẩu, (5) sự ổn định chính trị, (6) giá năng lượng, (7) tỉ lệ sử dụng các nhiên liệu có gốc carbon, (8) tính thanh khoản của thị trường; dấu hiệu hợp nhất có thể được xây dựng từ các dấu hiệu đơn lẻ đã nêu ở trên và từ việc xem xét tổ hợp các yếu tố tác động tác động tới vấn đề an ninh năng lượng mà các dấu hiệu đơn lẻ đã đề cập đến. Các dấu hiệu hợp nhất thể hiện qua chỉ số cơ sở Shannon, Chỉ số S/D (Cung cấp/Tiêu thụ), Dấu hiệu về sự sẵn sàng để chi trả, Dấu hiệu về tính dễ tổn thương của dầu mỏ…

Liên minh châu Âu (EU) đánh giá dự trên 8 dấu hiệu đơn lẻ đã được sử dụng bao gồm: cường độ năng lượng; cường độ carbon; tỉ lệ độc lập về nhập khẩu năng lượng với từng nguồn năng lượng sơ cấp chính là than đá, khí thiên nhiên và dầu mỏ; sản lượng của các nguồn năng lượng sơ cấp; tổng công suất nguồn điện và cuối cùng là nhu cầu năng lượng cho giao thông.

Theo phương pháp đánh giá của Liên bang Nga, có 7 dấu hiệu đơn lẻ quan trọng nhất để đánh giá các khía cạnh khác nhau về an ninh năng lượng của mình, bao gồm: sụt giảm năng lực công suất sản xuất năng lượng của hệ thống, tỉ lệ của các loại nhiên liệu chi phối trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng, mức độ không cấp đủ năng lượng cho khách hàng so với tổng nhu cầu của các nguồn năng lượng đó, khả năng tìm kiếm các nguồn năng lượng bù đắp lại mức độ khai thác hàng năm phục vụ cho việc tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, mức độ vượt quá của các khả năng cung cấp của các loại nhiên liệu trên tổng số nhu cầu của các loại năng lượng đó, mối quan hệ giữa tổng số nhiên liệu dự trữ tại thời điểm đầu của thời đoạn và mức tiêu thụ hàng năm, mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng, đặc trưng cho mức độ tiêu thụ năng lượng trên 1 đơn vị GDP.

Việt Nam cần tham khảo và lựa chọn cách tiếp cận và phương pháp đánh giá nào cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển riêng biệt.

An Nguyên

Tin bài khác
Đà Nẵng thống nhất chủ trương xây dựng tuyến cao tốc nội thị kết nối Chu Lai

Đà Nẵng thống nhất chủ trương xây dựng tuyến cao tốc nội thị kết nối Chu Lai

TP. Đà Nẵng thống nhất chủ trương nghiên cứu xây dựng tuyến đường cao tốc nội thị tốc độ cao kết nối khu vực trung tâm thành phố với khu đô thị phía Nam (Tam Kỳ – Chu Lai).
Hội thảo bàn giải pháp phát triển nhà ở xã hội, hướng tới mục tiêu 1 triệu căn

Hội thảo bàn giải pháp phát triển nhà ở xã hội, hướng tới mục tiêu 1 triệu căn

Tại Hội thảo về phát triển nhà ở xã hội tổ chức ngày 12/3, các chuyên gia và cơ quan quản lý đề xuất điều chỉnh tư duy chính sách, tăng nguồn cung, đồng thời bảo đảm phân bổ công bằng nhằm thực hiện mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2028.
Loạt cây cầu nghìn tỷ “dịch chuyển” trung tâm Thủ đô: Ocean City bước vào chu kỳ bứt tốc

Loạt cây cầu nghìn tỷ “dịch chuyển” trung tâm Thủ đô: Ocean City bước vào chu kỳ bứt tốc

Trong tương lai gần, Hà Nội sẽ có tổng cộng 16 cây cầu bắc qua sông Hồng. Hệ thống giao thông ngày càng hoàn chỉnh được kỳ vọng “vẽ lại” bản đồ trung tâm Thủ đô, mở ra dư địa phát triển mạnh mẽ cho khu Đông. Án ngữ vị trí cửa ngõ, Ocean City trở thành tâm điểm hưởng lợi, sẵn sàng bước vào chu kỳ tăng trưởng bức tốc.
Đà Nẵng thông qua điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Đà Nẵng thông qua điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050

HĐND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Nghị quyết số 06/NQ-HĐND thông qua điều chỉnh Quy hoạch thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Việt Nam lần đầu lọt Top 10 thị trường công trình xanh LEED toàn cầu

Việt Nam lần đầu lọt Top 10 thị trường công trình xanh LEED toàn cầu

Việt Nam lần đầu tiên góp mặt trong Top 10 thị trường công trình xanh LEED toàn cầu năm 2025, phản ánh sự bùng nổ của các dự án bất động sản bền vững và xu hướng đầu tư gắn với tiêu chuẩn môi trường quốc tế.
Thị trường bất động sản 2026: Bộ Xây dựng siết pháp lý, TP. Hồ Chí Minh dịch chuyển ra vùng ven

Thị trường bất động sản 2026: Bộ Xây dựng siết pháp lý, TP. Hồ Chí Minh dịch chuyển ra vùng ven

Năm 2026, thị trường bất động sản được dự báo bước vào giai đoạn tái cấu trúc theo hướng minh bạch và bền vững hơn. Trọng tâm điều hành của cơ quan quản lý nhà nước là hoàn thiện khung pháp lý, tăng nguồn cung và chuẩn hóa dữ liệu thị trường.
Trung Quốc: Thượng Hải nới lỏng mua nhà, kích hoạt làn sóng phục hồi bất động sản

Trung Quốc: Thượng Hải nới lỏng mua nhà, kích hoạt làn sóng phục hồi bất động sản

Thượng Hải nới lỏng quy định mua nhà, mở rộng đối tượng được phép sở hữu bất động sản nhằm kích thích nhu cầu và hỗ trợ thị trường địa ốc Trung Quốc phục hồi sau hơn 4 năm suy giảm.
Hà Nội phê duyệt đơn giá thuê ki-ốt, diện tích kinh doanh tại 33 tòa chung cư

Hà Nội phê duyệt đơn giá thuê ki-ốt, diện tích kinh doanh tại 33 tòa chung cư

Hà Nội phê duyệt đơn giá cho thuê diện tích kinh doanh dịch vụ tại 33 tòa chung cư tái định cư, thương mại thuộc tài sản công; mức giá dao động 107.000 – 442.000 đồng/m2/tháng, thực hiện đấu giá theo quy định.
Giá bất động sản và thu nhập người dân: Nhìn từ dữ liệu thay vì cảm xúc

Giá bất động sản và thu nhập người dân: Nhìn từ dữ liệu thay vì cảm xúc

Trong nhiều năm qua, nhận định “giá bất động sản Việt Nam quá cao so với thu nhập người dân” xuất hiện dày đặc trên truyền thông và mạng xã hội. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng – Phó Giám đốc Học viện Eagle Academy, phần lớn các tranh luận mới dừng ở cảm nhận hoặc so sánh định tính, trong khi đánh giá đúng mức độ “đắt – rẻ” của nhà ở cần dựa trên dữ liệu và mối tương quan vĩ mô.
Đà Nẵng công khai 36 doanh nghiệp và 3 sàn giao dịch bất động sản đủ điều kiện hoạt động theo luật mới

Đà Nẵng công khai 36 doanh nghiệp và 3 sàn giao dịch bất động sản đủ điều kiện hoạt động theo luật mới

Thị trường bất động sản Đà Nẵng bước vào giai đoạn “lọc chuẩn” khi cơ quan quản lý chính thức công khai danh sách các đơn vị đủ điều kiện pháp lý để hoạt động theo quy định mới. Động thái này được xem là bước siết kỷ cương quan trọng, hướng tới minh bạch hóa hoạt động môi giới, giao dịch, đồng thời bảo vệ quyền lợi người mua nhà và nhà đầu tư.
Hà Nội: Ngoại thành dẫn dắt nguồn cung bất động sản

Hà Nội: Ngoại thành dẫn dắt nguồn cung bất động sản

Thị trường nhà ở Hà Nội giai đoạn 2026–2028 dự kiến đón hơn 78.000 sản phẩm mới, nguồn cung dịch chuyển mạnh ra ngoại thành, cạnh tranh bằng tiện ích và chất lượng sống.
Hà Nội định hình 9 trục không gian, mở “xương sống” phát triển 100 năm

Hà Nội định hình 9 trục không gian, mở “xương sống” phát triển 100 năm

Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm xác lập 9 trục không gian – kinh tế – đô thị bám theo các tuyến giao thông huyết mạch, cùng 6 vành đai liên kết vùng, tạo khung cấu trúc mới để Hà Nội mở rộng phát triển đa trung tâm, giảm áp lực nội đô và tăng kết nối liên tỉnh.
Metro Hà Nội vận hành thúc đẩy mô hình TOD, tái cấu trúc đô thị bền vững dài hạn

Metro Hà Nội vận hành thúc đẩy mô hình TOD, tái cấu trúc đô thị bền vững dài hạn

Theo Quy hoạch Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, dân số thường trú dự kiến đạt khoảng 11 triệu người, với tỷ lệ đô thị hóa lên tới 70%, qua đó tạo ra áp lực rất lớn lên hệ thống hạ tầng giao thông và quỹ đất đô thị hiện hữu.
Đà Nẵng siết chiều cao xây dựng trong kiệt hẻm, điều chỉnh mạnh quy định nhà ở và khách sạn

Đà Nẵng siết chiều cao xây dựng trong kiệt hẻm, điều chỉnh mạnh quy định nhà ở và khách sạn

Từ ngày 25/1/2026, hàng loạt quy định mới về chiều cao, mật độ xây dựng và công năng công trình tại TP. Đà Nẵng chính thức có hiệu lực. Theo đó, nhà ở, khách sạn, văn phòng cho thuê trong kiệt hẻm và trên các tuyến đường nhỏ sẽ bị khống chế nghiêm ngặt về số tầng, đồng thời hạn chế các hoạt động thương mại – dịch vụ quy mô lớn nhằm bảo đảm trật tự kiến trúc và hạ tầng đô thị.
Dòng tiền bất động sản: Ưu tiên nhu cầu thực để cân bằng thị trường

Dòng tiền bất động sản: Ưu tiên nhu cầu thực để cân bằng thị trường

Trong bối cảnh quy mô thị trường ngày càng mở rộng, việc kiểm soát dòng vốn tín dụng bất động sản đang được các cơ quan quản lý tiếp cận theo hướng chủ động phòng ngừa rủi ro, thay vì phản ứng bị động sau các chu kỳ “nóng – lạnh” của thị trường.