Thứ ba 03/11/2026 14:25
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Made in Vietnam: Sẽ có tiêu chuẩn rõ ràng hơn!

12/10/2020 00:00
Tiêu chí “made in Vietnam” cần hướng tới mục tiêu và lợi ích mà sản phẩm Việt Nam muốn đạt được tại thị trường xuất khẩu.

Mới đây, Bộ Công Thương đã ban hành dự thảo thông tư quy định về một sản phẩm được coi là “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam”. “Nếu dự thảo được áp dụng vào thực tế, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc gian lận xuất xứ, tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm đội lốt hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua” - Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh khẳng định.

Tuy vậy, một số ý kiến cho rằng dự thảo thông tư còn một số bất cập.

Tỉ lệ nội địa hóa phải trên 50%?

Theo dự thảo, một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xác định một sản phẩm hàng hóa là hàng Việt nếu đảm bảo được các yếu tố: 30% hàm lượng giá trị gia tăng của hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam và trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại nước ta.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP.HCM, góp ý: Mỗi ngành sản xuất có một đặc thù riêng, vì vậy tiêu chí xuất xứ “made in Vietnam” cũng phải có những tiêu chí riêng cho từng sản phẩm của từng ngành hàng chứ không nên đưa ra một tiêu chí chung cho tất cả các loại hàng hóa.

Ông Quốc Anh lấy dẫn chứng ngành cao su phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu rất lớn. Vì vậy, nguyên vật liệu nhập khẩu phải dưới 50%; phần gia công, sản xuất tại Việt Nam phải trên 50% thì mới nên ghi “made in Vietnam”. Còn phần nguyên vật liệu nhập quá nhiều, trên 50% thì không được ghi “made in Vietnam” mà chỉ được ghi lắp ráp hoặc gia công tại Việt Nam.

Tuy vậy theo ông Anh, dù nội địa hay xuất khẩu cũng cần có một tiêu chuẩn chung về việc ghi nhãn “made in Vietnam”. Ví dụ, trong khối ASEAN, mặt hàng ô tô nhập khẩu để được miễn thuế phải đáp ứng trên 40% tỉ lệ nội khối.

Còn theo chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến, ở các nước có nền công nghiệp phát triển đã tạo được thương hiệu “made in” như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…, hiện nay dùng nhiều khái niệm mở đối với xuất xứ sản phẩm chứ không bắt buộc chỉ ghi “made in”. Riêng một số nước có nền kinh tế đang hội nhập như Việt Nam thường dùng khái niệm “made by” (được tạo ra bởi) nhiều hơn là “made in”. Ví dụ như “made by Nokia”, “made by Samsung”…

“Made by” được hiểu rằng tại các nước đang phát triển một sản phẩm được tạo ra bởi nhiều công ty đến từ nhiều quốc gia, mặt khác cũng do sản phẩm được tạo ra bởi hãng nào thì hãng đó phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng. Còn khi “made in” trở thành bảo chứng cho chất lượng sản phẩm của một quốc gia thì một số nước đưa ra tiêu chí rất cao để tránh những mặt hàng kém chất lượng gây ảnh hưởng đến thương hiệu chung của hàng hóa sản xuất từ nước đó. Đơn cử tại Đức, Nhật, Pháp, Mỹ… Nghĩa là họ ghi “made in” cho những sản phẩm có giá trị thương hiệu quốc gia, những sản phẩm có giá trị hàm lượng công nghệ cao.

“Với xu hướng toàn cầu hóa, sản phẩm tạo ra từ các nguyên, vật liệu, linh kiện được sản xuất khắp thế giới, khái niệm “made by” được các nước sử dụng nhiều hơn “made in”” - ông Chiến chia sẻ.Sẽ quy định chặt chẽ hơn về tỉ lệ nội địa hóa để xác định made in VietNam. Trong ảnh: Triển lãm ô tô Việt Nam tại TP.HCM. Ảnh: HTD

Made in Vietnam: Sẽ có tiêu chuẩn rõ ràng hơn! - Ảnh 1.

Sẽ quy định chặt chẽ hơn về tỉ lệ nội địa hóa để xác định made in VietNam. Trong ảnh: Triển lãm ô tô Việt Nam tại TP.HCM. Ảnh: HTD

Linh hoạt theo tiêu chuẩn quốc tế

Là một chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp ô tô, nhiều năm làm cho hãng xe danh tiếng tại Đức, ông Nguyễn Minh Đồng cho biết “made in Germany” hay “made in Japan”… đã là thương hiệu, tạo được uy tín trên toàn thế giới từ lâu vì những nước này có khoa học kỹ thuật phát triển ở trình độ cao. Thế nhưng xu thế hiện nay là chuỗi sản xuất toàn cầu, chiếc ô tô mang thương hiệu Đức nhưng nhiều bộ phận, giá trị tạo ra lại từ nhiều nước châu Âu, từ Nga hoặc từ các nước châu Á…

Vì thế, ở Đức tiêu chí ghi “made in” cũng thay đổi, có tiêu chuẩn rất rõ ràng. Đối với những sản phẩm có giá trị nội địa sản xuất chiếm 80% thì mới được ghi “made in Germany”, còn ghi “made in Europe” thì giá trị tạo ra sản phẩm phải 80% đến từ châu Âu. Nếu tỉ lệ đó ở mức thấp hơn thì ghi “made in for Europe”, ghi lắp ráp tại Đức hoặc lắp ráp tại châu Âu.

Xoài Thái sẽ đổi thành xoài Việt?

Đại diện Bộ Công Thương cho biết dự thảo thông tư quy định: Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam được coi là hàng hóa có xuất xứ thuần túy. Vì vậy, cây xoài mặc dù lấy giống từ Thái Lan nhưng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam thì quả xoài được coi là sản phẩm của Việt Nam.

“Bằng chứng mới đây, sắt thép Trung Quốc nhập sang Việt Nam mượn xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đã bị Mỹ, EU phát hiện. Kết quả là các sản phẩm sắt thép Việt Nam bị đánh thuế nhập khẩu vào các thị trường trên rất cao. Vì vậy, đối với hàng xuất khẩu, cần có tiêu chí về tỉ lệ nội địa hóa tạo nên sản phẩm và giám sát chặt chẽ tỉ lệ đó mới được ghi “made in Vietnam”” - ông Đồng góp ý.Liên hệ với câu chuyện tiêu chí “made in” cho hàng hóa Việt Nam, theo ông Đồng, Bộ Công Thương muốn xây dựng tiêu chuẩn “made in Vietnam” cho sản phẩm Việt Nam thì cần dựa theo tiêu chuẩn của thế giới và phải hướng đến xuất khẩu. Vì khi xuất khẩu sang các nước trên thế giới, tiêu chuẩn “made in” liên quan đến xác định áp dụng các loại thuế suất, đến gian lận thương mại. Nếu Việt Nam tự đưa ra tiêu chuẩn “made in” nhưng khi các nước nhập khẩu hàng Việt lại không công nhận thì tiêu chuẩn “made in” có cũng như không.

Đồng quan điểm, chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến cho rằng khi xây dựng tiêu chí “made in”, cơ quan chức năng ngoài việc xác định thị trường mục tiêu cho tiêu chuẩn đó còn phải xác định gắn “made in Việt Nam” vào sản phẩm là tạo sự bảo chứng về chất lượng sản phẩm, tạo thương hiệu quốc gia.

Ngoài ra, tiêu chí đó phải cập nhật xu hướng hội nhập cũng như căn cứ vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. “Bên cạnh “made in” dành cho sản phẩm xuất khẩu thì những sản phẩm bán tại thị trường nội địa nên ghi là “made by”, ông Chiến gợi ý.

Nên tham khảo cách Trung Quốc đã làm

Chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến nhận định Trung Quốc đã trải qua thời gian chuyên gia công, lắp ráp như Việt Nam bây giờ. Trong quá trình đó, Trung Quốc cũng đưa ra tiêu chí "made in China" và "made by…" để gắn lên sản phẩm có xuất xứ hoặc được sản xuất từ Trung Quốc.

"Made in China" được Trung Quốc sử dụng linh hoạt theo tiêu chí của từng thị trường mà sản phẩm hướng đến. Ví dụ, hàng hóa Trung Quốc khi xuất khẩu vào các nước ASEAN thì họ làm theo tiêu chí mà các nước ASEAN đưa ra đối với hàng nhập khẩu (tỉ lệ nội địa hóa phải đạt 40%) để gắn mác "made in China" cho sản phẩm đó; đối với hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu đi thị trường châu Âu, Mỹ… thì họ cũng căn cứ quy định của các thị trường trên để ghi "made in China". Còn đối với những sản phẩm của các công ty đa quốc gia, Trung Quốc thường dùng "made by"…

"Hiệu ứng của "made in China" và "made by…" từ quy định linh hoạt của Trung Quốc có thể là một phần nguyên nhân khiến hàng hóa từ Trung Quốc đến được nhiều nơi trên thế giới như hiện nay. Do đó việc xây dựng tiêu chí "made in Việt Nam" cho hàng hóa từ Việt Nam cũng nên tham khảo cách Trung Quốc đã làm" - ông Chiến gợi ý.

Theo Quang Huy

Tin bài khác
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.
Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Hơn 12,87 triệu tỷ đồng tài sản công đặt ra áp lực chống lãng phí

Cả nước đã kiểm kê 20 loại tài sản công với tổng nguyên giá hơn 12,87 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, đằng sau quy mô nguồn lực khổng lồ là những bất cập trong hạch toán, bàn giao và sử dụng tài sản. Yêu cầu hiện nay không chỉ là hoàn thiện sổ sách mà phải đưa tài sản có khả năng khai thác trở lại phục vụ hoạt động công, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.
Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Tăng trưởng 10% đặt quý IV trước áp lực tăng tốc 12,5%

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026 đang đặt nền kinh tế trước yêu cầu tăng tốc mạnh trong quý cuối năm. Trước Quốc hội, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Chính phủ sẽ tập trung tháo gỡ những rào cản, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và triển khai các giải pháp kiểm soát lạm phát, nhằm tạo dư địa cho sản xuất, kinh doanh và giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh kiến nghị tháo gỡ vướng mắc từ đầu tư đến giải thể

Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh lần thứ 281, ngày 30/10, nhiều kiến nghị tập trung vào những thủ tục phát sinh trong suốt vòng đời hoạt động của doanh nghiệp, từ đăng ký đầu tư, thay đổi nội dung kinh doanh đến giải thể và chấm dứt hoạt động đơn vị trực thuộc. Những vấn đề được nêu ra đặt ra yêu cầu không chỉ giải đáp tại hội nghị mà còn phải theo dõi, đôn đốc và công khai kết quả xử lý.
IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

IMF dự báo bước tiến mới về GDP bình quân đầu người Việt Nam

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt 5.259 USD trong năm 2026, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Đây là bước tiến đáng chú ý trong tương quan quy mô kinh tế giữa hai nước, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư và mở rộng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Quốc hội thảo luận mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu sẽ thảo luận nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 được đặt ra cùng yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Việt Nam đề xuất 3 trụ cột hợp tác nông nghiệp ASEAN giai đoạn 2026-2030

Tại Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 48 (AMAF 48) ở Singapore, Việt Nam đề xuất ba định hướng ưu tiên nhằm củng cố an ninh lương thực, thúc đẩy nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và đẩy nhanh chuyển đổi số, qua đó nâng cao khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp khu vực.
TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

TP. Hồ Chí Minh mở cơ chế ưu đãi để hút đầu tư vào kinh tế biển

Từ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo đến công nghệ sinh học biển và dịch vụ môi trường, TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng phạm vi thu hút đầu tư vào kinh tế biển. Danh mục ưu đãi mới được kỳ vọng tạo liên kết giữa các ngành, nhưng bài toán quan trọng là xác định đúng dự án, điều kiện thụ hưởng và cơ chế triển khai để chính sách thực sự đi vào hoạt động kinh doanh.