Thứ năm 29/10/2026 08:26
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Made in Vietnam: Sẽ có tiêu chuẩn rõ ràng hơn!

12/10/2020 00:00
Tiêu chí “made in Vietnam” cần hướng tới mục tiêu và lợi ích mà sản phẩm Việt Nam muốn đạt được tại thị trường xuất khẩu.

Mới đây, Bộ Công Thương đã ban hành dự thảo thông tư quy định về một sản phẩm được coi là “sản phẩm của Việt Nam” hay “sản xuất tại Việt Nam”. “Nếu dự thảo được áp dụng vào thực tế, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc gian lận xuất xứ, tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm đội lốt hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua” - Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh khẳng định.

Tuy vậy, một số ý kiến cho rằng dự thảo thông tư còn một số bất cập.

Tỉ lệ nội địa hóa phải trên 50%?

Theo dự thảo, một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xác định một sản phẩm hàng hóa là hàng Việt nếu đảm bảo được các yếu tố: 30% hàm lượng giá trị gia tăng của hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam và trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại nước ta.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP.HCM, góp ý: Mỗi ngành sản xuất có một đặc thù riêng, vì vậy tiêu chí xuất xứ “made in Vietnam” cũng phải có những tiêu chí riêng cho từng sản phẩm của từng ngành hàng chứ không nên đưa ra một tiêu chí chung cho tất cả các loại hàng hóa.

Ông Quốc Anh lấy dẫn chứng ngành cao su phụ thuộc vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu rất lớn. Vì vậy, nguyên vật liệu nhập khẩu phải dưới 50%; phần gia công, sản xuất tại Việt Nam phải trên 50% thì mới nên ghi “made in Vietnam”. Còn phần nguyên vật liệu nhập quá nhiều, trên 50% thì không được ghi “made in Vietnam” mà chỉ được ghi lắp ráp hoặc gia công tại Việt Nam.

Tuy vậy theo ông Anh, dù nội địa hay xuất khẩu cũng cần có một tiêu chuẩn chung về việc ghi nhãn “made in Vietnam”. Ví dụ, trong khối ASEAN, mặt hàng ô tô nhập khẩu để được miễn thuế phải đáp ứng trên 40% tỉ lệ nội khối.

Còn theo chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến, ở các nước có nền công nghiệp phát triển đã tạo được thương hiệu “made in” như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…, hiện nay dùng nhiều khái niệm mở đối với xuất xứ sản phẩm chứ không bắt buộc chỉ ghi “made in”. Riêng một số nước có nền kinh tế đang hội nhập như Việt Nam thường dùng khái niệm “made by” (được tạo ra bởi) nhiều hơn là “made in”. Ví dụ như “made by Nokia”, “made by Samsung”…

“Made by” được hiểu rằng tại các nước đang phát triển một sản phẩm được tạo ra bởi nhiều công ty đến từ nhiều quốc gia, mặt khác cũng do sản phẩm được tạo ra bởi hãng nào thì hãng đó phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng. Còn khi “made in” trở thành bảo chứng cho chất lượng sản phẩm của một quốc gia thì một số nước đưa ra tiêu chí rất cao để tránh những mặt hàng kém chất lượng gây ảnh hưởng đến thương hiệu chung của hàng hóa sản xuất từ nước đó. Đơn cử tại Đức, Nhật, Pháp, Mỹ… Nghĩa là họ ghi “made in” cho những sản phẩm có giá trị thương hiệu quốc gia, những sản phẩm có giá trị hàm lượng công nghệ cao.

“Với xu hướng toàn cầu hóa, sản phẩm tạo ra từ các nguyên, vật liệu, linh kiện được sản xuất khắp thế giới, khái niệm “made by” được các nước sử dụng nhiều hơn “made in”” - ông Chiến chia sẻ.Sẽ quy định chặt chẽ hơn về tỉ lệ nội địa hóa để xác định made in VietNam. Trong ảnh: Triển lãm ô tô Việt Nam tại TP.HCM. Ảnh: HTD

Made in Vietnam: Sẽ có tiêu chuẩn rõ ràng hơn! - Ảnh 1.

Sẽ quy định chặt chẽ hơn về tỉ lệ nội địa hóa để xác định made in VietNam. Trong ảnh: Triển lãm ô tô Việt Nam tại TP.HCM. Ảnh: HTD

Linh hoạt theo tiêu chuẩn quốc tế

Là một chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp ô tô, nhiều năm làm cho hãng xe danh tiếng tại Đức, ông Nguyễn Minh Đồng cho biết “made in Germany” hay “made in Japan”… đã là thương hiệu, tạo được uy tín trên toàn thế giới từ lâu vì những nước này có khoa học kỹ thuật phát triển ở trình độ cao. Thế nhưng xu thế hiện nay là chuỗi sản xuất toàn cầu, chiếc ô tô mang thương hiệu Đức nhưng nhiều bộ phận, giá trị tạo ra lại từ nhiều nước châu Âu, từ Nga hoặc từ các nước châu Á…

Vì thế, ở Đức tiêu chí ghi “made in” cũng thay đổi, có tiêu chuẩn rất rõ ràng. Đối với những sản phẩm có giá trị nội địa sản xuất chiếm 80% thì mới được ghi “made in Germany”, còn ghi “made in Europe” thì giá trị tạo ra sản phẩm phải 80% đến từ châu Âu. Nếu tỉ lệ đó ở mức thấp hơn thì ghi “made in for Europe”, ghi lắp ráp tại Đức hoặc lắp ráp tại châu Âu.

Xoài Thái sẽ đổi thành xoài Việt?

Đại diện Bộ Công Thương cho biết dự thảo thông tư quy định: Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam được coi là hàng hóa có xuất xứ thuần túy. Vì vậy, cây xoài mặc dù lấy giống từ Thái Lan nhưng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam thì quả xoài được coi là sản phẩm của Việt Nam.

“Bằng chứng mới đây, sắt thép Trung Quốc nhập sang Việt Nam mượn xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đã bị Mỹ, EU phát hiện. Kết quả là các sản phẩm sắt thép Việt Nam bị đánh thuế nhập khẩu vào các thị trường trên rất cao. Vì vậy, đối với hàng xuất khẩu, cần có tiêu chí về tỉ lệ nội địa hóa tạo nên sản phẩm và giám sát chặt chẽ tỉ lệ đó mới được ghi “made in Vietnam”” - ông Đồng góp ý.Liên hệ với câu chuyện tiêu chí “made in” cho hàng hóa Việt Nam, theo ông Đồng, Bộ Công Thương muốn xây dựng tiêu chuẩn “made in Vietnam” cho sản phẩm Việt Nam thì cần dựa theo tiêu chuẩn của thế giới và phải hướng đến xuất khẩu. Vì khi xuất khẩu sang các nước trên thế giới, tiêu chuẩn “made in” liên quan đến xác định áp dụng các loại thuế suất, đến gian lận thương mại. Nếu Việt Nam tự đưa ra tiêu chuẩn “made in” nhưng khi các nước nhập khẩu hàng Việt lại không công nhận thì tiêu chuẩn “made in” có cũng như không.

Đồng quan điểm, chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến cho rằng khi xây dựng tiêu chí “made in”, cơ quan chức năng ngoài việc xác định thị trường mục tiêu cho tiêu chuẩn đó còn phải xác định gắn “made in Việt Nam” vào sản phẩm là tạo sự bảo chứng về chất lượng sản phẩm, tạo thương hiệu quốc gia.

Ngoài ra, tiêu chí đó phải cập nhật xu hướng hội nhập cũng như căn cứ vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. “Bên cạnh “made in” dành cho sản phẩm xuất khẩu thì những sản phẩm bán tại thị trường nội địa nên ghi là “made by”, ông Chiến gợi ý.

Nên tham khảo cách Trung Quốc đã làm

Chuyên gia thương hiệu Lý Trường Chiến nhận định Trung Quốc đã trải qua thời gian chuyên gia công, lắp ráp như Việt Nam bây giờ. Trong quá trình đó, Trung Quốc cũng đưa ra tiêu chí "made in China" và "made by…" để gắn lên sản phẩm có xuất xứ hoặc được sản xuất từ Trung Quốc.

"Made in China" được Trung Quốc sử dụng linh hoạt theo tiêu chí của từng thị trường mà sản phẩm hướng đến. Ví dụ, hàng hóa Trung Quốc khi xuất khẩu vào các nước ASEAN thì họ làm theo tiêu chí mà các nước ASEAN đưa ra đối với hàng nhập khẩu (tỉ lệ nội địa hóa phải đạt 40%) để gắn mác "made in China" cho sản phẩm đó; đối với hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu đi thị trường châu Âu, Mỹ… thì họ cũng căn cứ quy định của các thị trường trên để ghi "made in China". Còn đối với những sản phẩm của các công ty đa quốc gia, Trung Quốc thường dùng "made by"…

"Hiệu ứng của "made in China" và "made by…" từ quy định linh hoạt của Trung Quốc có thể là một phần nguyên nhân khiến hàng hóa từ Trung Quốc đến được nhiều nơi trên thế giới như hiện nay. Do đó việc xây dựng tiêu chí "made in Việt Nam" cho hàng hóa từ Việt Nam cũng nên tham khảo cách Trung Quốc đã làm" - ông Chiến gợi ý.

Theo Quang Huy

Tin bài khác
Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Đại biểu Quốc hội đề xuất siết quỹ đất nhà ở xã hội, kiểm soát giá chuyển nhượng

Tại phiên thảo luận chiều 28/10 về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị phát triển nhà ở sát nhu cầu, khả năng chi trả của người dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế bố trí quỹ đất, giá thuê và chuyển nhượng nhà ở xã hội nhằm ngăn chặn trục lợi chính sách.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Bộ trưởng Bộ Xây dựng lý giải mức giá nhà ở xã hội gần 30 triệu đồng/m²

Giá nhà ở xã hội hiện dao động khoảng 15–29 triệu đồng/m², tùy địa phương và đặc điểm từng dự án. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, chi phí xây dựng, hạ tầng, vật liệu và lãi vay là những yếu tố tạo nên sự chênh lệch này.
Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Việt Nam chủ động thích ứng với kinh tế toàn cầu

Tại phiên đối thoại trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 ngày 28/10, Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam chủ động thích ứng với những chuyển dịch của kinh tế thế giới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng, doanh nghiệp Việt cần đổi cách cạnh tranh

WEF chỉ ra ba động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu gồm công nghệ, công nghiệp bền vững và kết nối quốc tế. Với doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội nằm ở việc nâng năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào năng lực thực thi và khả năng tiếp cận nguồn lực.
Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Bộ trưởng Bộ Công Thương: Không thể buộc người tiêu dùng chia sẻ dữ liệu cá nhân để dùng dịch vụ

Tại phiên thảo luận ở Quốc hội sáng 28/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết dự thảo luật sửa đổi các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tăng quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết tranh chấp.
Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Thái Nguyên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ: Đưa chính sách vào năng lực cạnh tranh

Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Kế hoạch số 463/KH-UBND ngày 13/10/2026 về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ giai đoạn 2026–2030. Chính sách hướng tới kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị cung ứng công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất, quản trị và phát triển sản phẩm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác chiến lược, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới

Tại Phiên toàn thể cấp cao Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 4 hướng hợp tác trọng tâm với các đối tác quốc tế, từ phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo nhân lực công nghệ đến thử nghiệm công nghệ chiến lược và huy động nguồn vốn dài hạn.
Từ tài chính đến logistics, mở đường cho doanh nghiệp vươn ra thế giới

Từ tài chính đến logistics, mở đường cho doanh nghiệp vươn ra thế giới

TP. Hồ Chí Minh kết nối tăng trưởng thông qua tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, logistics và đổi mới sáng tạo. Thông điệp tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 đặt ra cơ hội thu hút vốn, công nghệ, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp, cùng yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và quản trị.
Địa phương còn hơn 17.243 tỷ đồng kinh phí khoa học, công nghệ chưa giải ngân

Địa phương còn hơn 17.243 tỷ đồng kinh phí khoa học, công nghệ chưa giải ngân

Đến ngày 26/10/2026, các địa phương mới giải ngân 38,49% tổng dự toán kinh phí dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tương đương hơn 10.789 tỷ đồng. Bộ Khoa học và Công nghệ yêu cầu khẩn trương tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, đồng thời siết chặt trách nhiệm về hiệu quả và sản phẩm đầu ra.
Quảng Trị tăng cường thúc đẩy hợp tác Việt Nam – EU về chuyển đổi năng lượng bền vững

Quảng Trị tăng cường thúc đẩy hợp tác Việt Nam – EU về chuyển đổi năng lượng bền vững

Quảng Trị tăng cường phối hợp với Bộ Công Thương và Liên minh châu Âu nhằm thúc đẩy chuyển đổi năng lượng bền vững, phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng khả năng tiếp cận điện lưới tại khu vực nông thôn, miền núi.
Quy hoạch khoáng sản hướng đến nâng cao hiệu quả khai thác

Quy hoạch khoáng sản hướng đến nâng cao hiệu quả khai thác

Hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch khoáng sản nhóm I thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Hội đồng thẩm định thống nhất thông qua, kèm yêu cầu tiếp tục hoàn thiện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Trọng tâm là xử lý các khu vực chồng lấn với dân cư, hạ tầng và dự án đầu tư, đồng thời gắn khai thác với chế biến sâu để nâng cao giá trị tài nguyên.
Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Năng lượng sạch là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng kinh tế

Phát triển năng lượng sạch đang chuyển mình mạnh mẽ từ một lĩnh vực kỹ thuật đơn thuần trở thành một trong những trụ cột chiến lược quan trọng hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam.
Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Điều phối nguồn cung vật liệu liên tỉnh, bảo đảm tiến độ các dự án trọng điểm quốc gia

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các địa phương liên quan bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường, phối hợp điều phối giữa các tỉnh, thành phố để đáp ứng nhu cầu thi công các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Các bộ, ngành được giao đôn đốc thực hiện và hoàn thiện quy định liên quan trong tháng 11/2026.
Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Chính phủ xem xét giảm giá điện, đưa thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0%

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu khẩn trương xây dựng phương án giảm giá điện bình quân, đồng thời rà soát tính khả thi của việc đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, dự kiến áp dụng từ ngày 1/11/2026 đến hết tháng 3/2027.
Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị thực tiễn

Hơn 76% sản phẩm khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn dừng ở giai đoạn nghiên cứu, trong khi liên kết giữa nhà khoa học và doanh nghiệp còn hạn chế. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, dữ liệu và liên kết chuỗi giá trị, đẩy nhanh ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành nông nghiệp.