Thứ bảy 07/11/2026 10:27
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: Mở rộng diện áp dụng thuế đơn giản, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: Mở rộng diện áp dụng thuế đơn giản, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ

Giải trình trước Quốc hội sáng 6/11, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến đại biểu, làm rõ điều kiện miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục tư thục không vì mục tiêu lợi nhuận và hoạt động cung cấp suất ăn tại trường học, cơ sở y tế.
Hải quan tăng cường đối thoại, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp FDI

Hải quan tăng cường đối thoại, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp FDI

Cục Hải quan và Hiệp hội các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (VAFIE) ký kết thỏa thuận hợp tác, hướng tới tăng cường tham vấn chính sách, cải cách thủ tục và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật hải quan.
Giải ngân 708.600 tỷ đồng, đầu tư công vẫn vướng mặt bằng và vật liệu

Giải ngân 708.600 tỷ đồng, đầu tư công vẫn vướng mặt bằng và vật liệu

Giải ngân vốn đầu tư công 10 tháng năm 2026 đạt hơn 708.567 tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, phía sau kết quả tích cực vẫn là những điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, nguồn cung vật liệu và năng lực tổ chức thi công. Việc điều phối nguồn lực liên tỉnh, xử lý dứt điểm thủ tục và nâng trách nhiệm chủ đầu tư đang trở thành yêu cầu cấp thiết để đưa vốn ngân sách vào công trình thực tế.
Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Pháp hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị 35.000 nhân lực đường sắt vào năm 2030

Với khoản tài trợ 850.000 euro từ AFD, chương trình hợp tác đào tạo đã giúp 110 cán bộ ngành xây dựng tiếp cận kinh nghiệm quốc tế về phát triển đường sắt tốc độ cao, tạo nền tảng nhân lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.
Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Tuyên Quang: Đánh thức lợi thế, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới

Không gian phát triển được mở rộng sau hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang đang tạo thêm cơ hội để địa phương khai thác tiềm năng về du lịch, nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế cửa khẩu. Kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh (4/11/1831 – 4/11/2026) cũng là dịp để Tuyên Quang nhìn lại hành trình lịch sử, đồng thời xác định những động lực mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Sửa Luật Đấu giá tài sản để bịt kẽ hở thông đồng, dìm giá và bỏ cọc

Từ hành vi thông đồng, dìm giá đến tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, những bất cập trong hoạt động đấu giá tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát ngay từ khâu đăng ký đến khi thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên thảo luận ngày 3/11, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và tăng cường công cụ nhận diện vi phạm, trong khi cơ quan soạn thảo đề xuất nâng tiền đặt trước, bổ sung chế tài cấm tham gia đấu giá.
Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Hải Phòng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng công nghiệp

Với mục tiêu kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án và mở rộng năng lực sản xuất, ngày 3/11, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trung Kiên dẫn đầu Đoàn công tác thành phố đến thăm, kiểm tra và làm việc với 3 doanh nghiệp công nghệ cao trọng điểm trên địa bàn phường Đông Hải. Qua đó, thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Vốn FDI vào Việt Nam lập đỉnh 17 năm, vốn giải ngân vượt 24 tỷ USD

Thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế trong 10 tháng năm 2026 khi tổng vốn FDI đăng ký đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ và cao nhất kể từ năm 2009. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt 24,08 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua, cho thấy dòng vốn ngoại không chỉ gia tăng về đăng ký mà còn được đẩy mạnh giải ngân.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, chỉ số IIP 10 tháng đạt mức cao nhất 8 năm

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp tiếp tục được củng cố trong tháng 10/2026, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4% – mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu.
Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Nhà ở xã hội sau 5 năm có thể không được bán theo giá thị trường

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định nhà ở xã hội không thể trở thành công cụ đầu cơ sau khi người mua đã hưởng chính sách ưu đãi. Theo hướng chỉnh lý dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), sau 5 năm, chủ sở hữu vẫn phải chuyển nhượng cho người đủ điều kiện hưởng chính sách, với giá không vượt mức giá tại thời điểm mua. Tuy nhiên, cơ chế xác định giá, mua lại và chuyển tiếp vẫn là những vấn đề cần được làm rõ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Định vị Việt Nam thành trung tâm logistics khu vực và thế giới

Nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm chiến lược phát triển logistics quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển, phân phối hàng hóa quan trọng của khu vực và thế giới, đồng thời yêu cầu sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Tuyên Quang mở rộng thị trường, nâng giá trị hàng hóa

Với mạng lưới phân phối ngày càng đa dạng và hoạt động giao thương biên giới tăng trưởng, Tuyên Quang đang mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để khai thác hiệu quả lợi thế này, tỉnh chú trọng kết nối sản xuất với nhu cầu thị trường, nâng chất lượng sản phẩm và phát triển xuất khẩu bền vững.
Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Lào Cai tăng cường quản lý giá, chủ động nguồn hàng dịp cuối năm

Trước nhu cầu tiêu dùng thường tăng vào những tháng cuối năm, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi cung cầu, triển khai các biện pháp bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2027.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư

Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa tạo sức hấp dẫn đủ lớn đối với các nhà đầu tư, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và nguồn lực hỗ trợ mang lại giá trị thực chất cho nền kinh tế. Định hướng sửa đổi Luật Đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư lần này đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn, mức độ lan tỏa và trách nhiệm thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Ưu đãi đầu tư cần đi cùng cam kết và hiệu quả thực tế

Trước áp lực cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đầu tư đủ sức hấp dẫn nhưng không dừng ở quy mô vốn đăng ký. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các khoản hỗ trợ phải gắn với kết quả đầu ra có thể đo lường, kiểm tra, giám sát; trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết cần có cơ chế chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi.