Thứ sáu 13/03/2026 04:14
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Ông Mai Xuân Thành - Cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính): Hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, thay vì tăng cường kiểm tra hay xử phạt

Ông Mai Xuân Thành - Cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính): Hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, thay vì tăng cường kiểm tra hay xử phạt

Cơ quan thuế cho biết trong giai đoạn đầu chuyển đổi từ phương pháp thuế khoán sang phương pháp kê khai, trọng tâm sẽ là hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, thay vì tăng cường kiểm tra hay xử phạt. Thông tin này được ông Mai Xuân Thành, Cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính), nhấn mạnh tại hội thảo “Giải pháp giúp hộ kinh doanh kê khai thuế đúng, an tâm tuân thủ, phát triển bền vững” chiều 12/3.
Chính sách tài chính mở lối huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Chính sách tài chính mở lối huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm chính sách tài chính cần đóng vai trò trung tâm trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xung đột Trung Đông đẩy giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh

Xung đột Trung Đông đẩy giá thức ăn chăn nuôi tăng mạnh

Tại Hội nghị phòng chống dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 12/3, ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết các biến động địa chính trị toàn cầu đang gây sức ép đáng kể lên ngành chăn nuôi.
Việt Nam củng cố vị thế trong mạng lưới kinh tế toàn cầu nhờ thương mại và FDI

Việt Nam củng cố vị thế trong mạng lưới kinh tế toàn cầu nhờ thương mại và FDI

Việt Nam đang củng cố vị thế trong chuỗi kết nối kinh tế toàn cầu khi thương mại hàng hóa tiếp tục tăng trưởng mạnh và dòng vốn FDI duy trì vai trò động lực. Báo cáo Kết nối Toàn cầu DHL 2026 cho thấy Việt Nam xếp thứ 36/180 nền kinh tế và được dự báo đạt mức tăng trưởng thương mại lớn thứ 4 thế giới giai đoạn 2026–2030.
Đảm bảo đầu ra cho lúa gạo: Thủ tướng yêu cầu tăng cường thu mua cho nông dân

Đảm bảo đầu ra cho lúa gạo: Thủ tướng yêu cầu tăng cường thu mua cho nông dân

Trước những biến động khó lường của thị trường lương thực thế giới và diễn biến giá lúa trong nước có xu hướng giảm trong thời điểm thu hoạch rộ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ban hành công điện yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm tiêu thụ lúa gạo, ổn định thu nhập cho nông dân.
Xuất khẩu nông sản có thể giảm 1 tỷ USD nếu xung đột Trung Đông kéo dài

Xuất khẩu nông sản có thể giảm 1 tỷ USD nếu xung đột Trung Đông kéo dài

Xung đột tại Trung Đông đang làm gia tăng nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, kéo theo tác động đáng kể đến hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Trước tình hình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã bắt đầu xây dựng các kịch bản ứng phó nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngành.
Thủ tướng chủ trì hội nghị tìm động lực phát triển kinh tế bạc

Thủ tướng chủ trì hội nghị tìm động lực phát triển kinh tế bạc

Trước tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị về “kinh tế bạc”, nhấn mạnh cần biến thách thức nhân khẩu học thành động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam.
GE Vernova công bố kế hoạch đầu tư 200 triệu USD vào chuỗi năng lượng Việt Nam

GE Vernova công bố kế hoạch đầu tư 200 triệu USD vào chuỗi năng lượng Việt Nam

Tập đoàn GE Vernova công bố kế hoạch hợp tác và đầu tư khoảng 200 triệu USD tại Việt Nam nhằm phát triển cơ sở sản xuất thiết bị lưới điện, góp phần tăng cường chuỗi cung ứng năng lượng và hỗ trợ triển khai Quy hoạch điện VIII.
Việt Nam tham gia toàn bộ chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, hướng tới phát triển 3 - 5 dòng chip chiến lược

Việt Nam tham gia toàn bộ chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, hướng tới phát triển 3 - 5 dòng chip chiến lược

Việt Nam đang từng bước tham gia vào toàn bộ các công đoạn của chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, từ thiết kế, sản xuất đến đóng gói và kiểm thử.
Đoàn thanh tra EC bắt đầu đợt kiểm tra IUU lần thứ 5 tại Việt Nam: Cơ hội quyết định để gỡ “thẻ vàng” thủy sản

Đoàn thanh tra EC bắt đầu đợt kiểm tra IUU lần thứ 5 tại Việt Nam: Cơ hội quyết định để gỡ “thẻ vàng” thủy sản

Đoàn thanh tra của Ủy ban châu Âu (Đoàn thanh tra EC) đã bắt đầu đợt kiểm tra lần thứ 5 tại Việt Nam về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Đây được xem là đợt đánh giá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể quyết định khả năng gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam – vốn đã được EC áp dụng từ năm 2017.
Thủ tướng chỉ đạo sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu từ 11/3, yêu cầu không để thiếu năng lượng

Thủ tướng chỉ đạo sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu từ 11/3, yêu cầu không để thiếu năng lượng

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu sử dụng ngay Quỹ bình ổn giá xăng dầu từ ngày 11/3, đồng thời triển khai các giải pháp bảo đảm nguồn cung năng lượng, kiểm soát thị trường và dứt khoát không để thiếu năng lượng trong mọi tình huống.
Hướng tới chuyển đổi Tổng công ty Đường sắt Việt Nam sang mô hình Tập đoàn kinh tế

Hướng tới chuyển đổi Tổng công ty Đường sắt Việt Nam sang mô hình Tập đoàn kinh tế

Chính phủ đang xem xét định hướng cơ cấu lại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế, với công ty mẹ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, nhằm nâng cao năng lực triển khai các dự án và phát triển ngành đường sắt trong giai đoạn mới.
Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đặt mục tiêu hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia năm 2026

Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đặt mục tiêu hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia năm 2026

Bộ trưởng Trần Đức Thắng yêu cầu đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trong năm 2026, coi đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai và phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn bền vững, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn bền vững, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Diễn đàn “Kết nối đầu tư tác động: Nguồn vốn cho tăng trưởng – Mở khóa tài chính bền vững cho doanh nghiệp Việt Nam” tập trung thảo luận các giải pháp tài chính hỗn hợp dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó thúc đẩy kết nối với thị trường vốn toàn cầu và gia tăng khả năng tham gia vào các chuỗi cung ứng quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Đổi mới đào tạo xây dựng phục vụ phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Đổi mới đào tạo xây dựng phục vụ phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh làm việc tại Trường Đại học Xây dựng Miền Tây, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới đào tạo, chuyển đổi số và gắn nguồn nhân lực xây dựng với nhu cầu phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.