Thứ bảy 10/10/2026 10:15
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Kinh tế chăm sóc: “Mỏ vàng” mới cho nữ doanh nhân Việt?

Kinh tế chăm sóc: “Mỏ vàng” mới cho nữ doanh nhân Việt?

Một thị trường mới đang mở ra phía sau những công việc chăm sóc vốn lâu nay bị xem là “việc nhà”. Điều đáng nói là phụ nữ không chỉ là lực lượng lao động của thị trường này, mà còn có thể trở thành những nữ doanh nhân, chủ doanh nghiệp và người kiến tạo hệ sinh thái chăm sóc. Đây có thể là một hướng đi đáng chú ý của Việt Nam khi chuẩn bị cho APEC 2027
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Ưu tiên khơi thông pháp lý cho đầu tư và kinh doanh

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Ưu tiên khơi thông pháp lý cho đầu tư và kinh doanh

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát, xử lý những quy định pháp luật bất cập, cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đồng thời làm rõ nguyên nhân, tác động và phương án khắc phục, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp.
Hải Phòng: Kiến An mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp từ khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Hải Phòng: Kiến An mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp từ khoa học công nghệ và chuyển đổi số

Các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và cơ chế đặc thù của Hải Phòng đang mở ra dư địa phát triển mới cho cộng đồng doanh nghiệp. Phường Kiến An cam kết đồng hành, đưa chính sách vào thực tiễn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.
Xuất khẩu tăng 24,5%, doanh nghiệp Việt đang hưởng bao nhiêu thành quả?

Xuất khẩu tăng 24,5%, doanh nghiệp Việt đang hưởng bao nhiêu thành quả?

Xuất khẩu tăng mạnh chưa đồng nghĩa doanh nghiệp Việt tạo ra phần lớn giá trị trong hàng hóa xuất khẩu. Tỷ lệ nội địa hóa điện tử tin học, viễn thông mới khoảng 15%, trong khi số doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn vẫn là bài toán cần giải.
Tăng tốc chuyển đổi số, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và du lịch

Tăng tốc chuyển đổi số, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và du lịch

Trong 3 tháng cuối năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tập trung hoàn thiện các dự án luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.
Chỉ đạo mới nhất của Chính phủ về tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026

Chỉ đạo mới nhất của Chính phủ về tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị chu đáo các hoạt động văn hóa, lễ hội dịp cuối năm, tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt Nam và Tuần lễ Văn hóa – Đại đoàn kết dân tộc năm 2026; đồng thời gắn bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Việt Nam - Lào hướng tới kim ngạch thương mại 10 tỷ USD vào năm 2030

Việt Nam - Lào hướng tới kim ngạch thương mại 10 tỷ USD vào năm 2030

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Thủ tướng Lào Saleumxay Kommasith thống nhất thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư Việt Nam - Lào theo hướng thực chất, hiệu quả; tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, đẩy nhanh các dự án kết nối hạ tầng chiến lược, tạo động lực đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 10 tỷ USD vào năm 2030.
Lâm Đồng thu hút 63 dự án mới, vốn đăng ký hơn 175.000 tỷ đồng

Lâm Đồng thu hút 63 dự án mới, vốn đăng ký hơn 175.000 tỷ đồng

Sau 9 tháng năm 2026, kinh tế Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực với nhiều chỉ số tăng trưởng khả quan. Thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và giải ngân vốn đầu tư công được xem là những điểm sáng quan trọng, tạo nền tảng để tỉnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% trong năm nay và duy trì động lực phát triển trong năm 2027.
Cần Thơ tăng tốc giải ngân, tháo gỡ điểm nghẽn trong quý IV

Cần Thơ tăng tốc giải ngân, tháo gỡ điểm nghẽn trong quý IV

Sau 9 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội TP. Cần Thơ tiếp tục duy trì xu hướng tích cực với GRDP ước tăng 7,89%, thu ngân sách đạt trên 80%. Tuy nhiên, giải ngân đầu tư công, tăng trưởng một số ngành và việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vẫn là những vấn đề thành phố phải tập trung xử lý trong những tháng cuối năm.
Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 3 về đổi mới sáng tạo

Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 3 về đổi mới sáng tạo

Với 56,33 điểm, Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026, tiếp tục khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong động lực phát triển thành phố.
Chính phủ thúc giải ngân, gỡ điểm nghẽn để tăng tốc cuối năm

Chính phủ thúc giải ngân, gỡ điểm nghẽn để tăng tốc cuối năm

GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%, nhưng áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng vẫn lớn. Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương rà soát toàn bộ chỉ tiêu, khơi thông dư địa tăng trưởng và tăng tốc giải ngân đầu tư công trong quý IV.
CPI vượt ngưỡng, bài toán lạm phát bước vào quý IV

CPI vượt ngưỡng, bài toán lạm phát bước vào quý IV

CPI 9 tháng năm 2026 tăng 4,52%, đã vượt mức mục tiêu 4,5% cho cả năm, trong khi áp lực giá tiếp tục lan từ xăng dầu sang nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông và thực phẩm. Quý IV trở thành phép thử đối với khả năng phối hợp chính sách và kiểm soát các cú tăng giá.
WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, cao nhất khu vực EAP

Ngân hàng Thế giới (WB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước và là mức cao nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP). Đà tăng được hỗ trợ bởi sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao và đầu tư công, song nền kinh tế vẫn đối mặt với không ít rủi ro từ bên ngoài.
Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Chính phủ công khai kết quả xử lý hàng loạt kiến nghị của doanh nghiệp

Các kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp sau Hội nghị Thường trực Chính phủ ngày 18/7/2026 đã được công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, tạo thêm kênh để cộng đồng doanh nghiệp theo dõi, đánh giá.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy mở rộng đầu tư tại Việt Nam

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Siemens Energy tăng cường hợp tác, chuyển giao công nghệ, từng bước tham gia sản xuất và xây dựng chuỗi cung ứng năng lượng tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn.