Thứ sáu 22/05/2026 20:39
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Gỡ nghẽn vốn nông nghiệp xanh không chỉ dựa vào tài sản thế chấp

Gỡ nghẽn vốn nông nghiệp xanh không chỉ dựa vào tài sản thế chấp

Thiếu tài sản thế chấp, quy mô nhỏ lẻ và rủi ro thiên tai cao đang là những "bức tường" ngăn dòng vốn tín dụng chảy vào nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn. Tại Diễn đàn “Khơi thông dòng vốn cho nông nghiệp: Giải pháp tín dụng an toàn và bền vững cho doanh nghiệp và nông dân” diễn ra sáng 22/5 tại Hà Nội, các chuyên gia khẳng định đã đến lúc phải thay đổi tư duy cấp vốn: chuyển từ dựa vào tài sản bảo đảm sang đánh giá năng lực và độ tín nhiệm thực tế của doanh nghiệp.
Đột phá đất hiếm, bán dẫn và chấm dứt xuất thô tài nguyên

Đột phá đất hiếm, bán dẫn và chấm dứt xuất thô tài nguyên

Tại cuộc làm việc cấp cao ngày 21/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra thông điệp không để nguồn lực nằm im và tuyệt đối không khai thác bằng mọi giá để đổi lấy tăng trưởng thô, nhằm tái định vị trục giá trị khoáng sản quốc gia, đưa đất hiếm và bán dẫn thành mũi nhọn đột phá.
Xăng E10 kích hoạt làn sóng tái cấu trúc ngành: “Ông lớn” tăng tốc, doanh nghiệp nhỏ hụt hơi

Xăng E10 kích hoạt làn sóng tái cấu trúc ngành: “Ông lớn” tăng tốc, doanh nghiệp nhỏ hụt hơi

Việc chuyển đổi toàn bộ xăng RON95 và RON92 sang tiêu chuẩn E10 không chỉ là một sự thay đổi về chính sách tiêu dùng nhiên liệu, mà còn được giới chuyên môn đánh giá là một "cú hích" vĩ mô, hứa hẹn định hình lại toàn bộ chuỗi giá trị nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.
Khơi thông tín dụng nông nghiệp xanh để tạo động lực phát triển bền vững dài hạn

Khơi thông tín dụng nông nghiệp xanh để tạo động lực phát triển bền vững dài hạn

Trong bối cảnh chuyển đổi nông nghiệp xanh, nhu cầu vốn ngày càng cấp thiết, song doanh nghiệp và nông dân vẫn đối mặt nhiều rào cản tiếp cận tín dụng, đòi hỏi chính sách linh hoạt và hệ thống tài chính đồng hành hiệu quả.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Điều chỉnh quy hoạch đất đai phải có tầm nhìn dài hạn, tránh manh mún

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Điều chỉnh quy hoạch đất đai phải có tầm nhìn dài hạn, tránh manh mún

Chủ trì cuộc họp về điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu không điều chỉnh quy hoạch tùy tiện, thiếu tầm nhìn chiến lược; đồng thời phải bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa các cấp quy hoạch nhằm tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Thủ tướng yêu cầu hoàn tất giao chỉ tiêu tăng trưởng để đạt mục tiêu hai con số

Thủ tướng yêu cầu hoàn tất giao chỉ tiêu tăng trưởng để đạt mục tiêu hai con số

Chính phủ yêu cầu hoàn tất giao chỉ tiêu tăng trưởng trong thời gian ngắn nhất nhằm tạo nền tảng triển khai mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, bảo đảm đồng bộ và hiệu quả điều hành.
Dự thảo Luật Đô Thị đặc biệt: TP. Hồ Chí Minh đề xuất gần 300 thẩm quyền, tìm lời giải cho “điểm nghẽn thể chế”

Dự thảo Luật Đô Thị đặc biệt: TP. Hồ Chí Minh đề xuất gần 300 thẩm quyền, tìm lời giải cho “điểm nghẽn thể chế”

Ngày 22/5, tại hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học và trí thức về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh cho rằng các cơ chế thí điểm trước đây đã tạo ra một số dư địa phát triển nhưng chưa đủ để hình thành nền tảng pháp lý ổn định và lâu dài cho quá trình vận hành của một đô thị quy mô đặc biệt. Thành phố đang hướng tới việc chuyển đổi từ mô hình “cơ chế đặc thù có thời hạn” sang “khung thể chế đặc biệt mang tính lâu dài”.
Tăng tốc chuẩn bị đầu tư cao tốc Bảo Hà - Lai Châu trước mốc năm 2030

Tăng tốc chuẩn bị đầu tư cao tốc Bảo Hà - Lai Châu trước mốc năm 2030

Dự án cao tốc Bảo Hà - Lai Châu được thúc đẩy hoàn thiện hồ sơ với yêu cầu bổ sung dự báo vận tải, đánh giá hiệu quả và lựa chọn phương án đầu tư phù hợp, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế vùng.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Rà soát quy hoạch, thúc đẩy kết nối vận tải đa phương

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh: Rà soát quy hoạch, thúc đẩy kết nối vận tải đa phương

Bộ trưởng Trần Hồng Minh yêu cầu rà soát quy hoạch, tăng kết nối đa phương thức, phát triển logistics hiện đại, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị Anh hỗ trợ Việt Nam phát triển trung tâm tài chính quốc tế

Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị Anh hỗ trợ Việt Nam phát triển trung tâm tài chính quốc tế

Tiếp Đại sứ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại Việt Nam Iain Frew, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề nghị phía Anh tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong hoàn thiện thể chế, phát triển tài chính xanh và xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, tương xứng với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Đề xuất đầu tư 17.500 tỷ làm cao tốc Bắc - Nam phía Tây qua Hà Nội, Phú Thọ

Đề xuất đầu tư 17.500 tỷ làm cao tốc Bắc - Nam phía Tây qua Hà Nội, Phú Thọ

Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Cổ Tiết - Yên Bài được đề xuất đầu tư gần 17.500 tỷ đồng, kỳ vọng tăng kết nối liên vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực phía Bắc.
Gỡ nút thắt giải ngân vốn giao thông, tăng tốc về đích cuối năm 2026

Gỡ nút thắt giải ngân vốn giao thông, tăng tốc về đích cuối năm 2026

Áp lực giải ngân vốn đầu tư công lĩnh vực giao thông đang gia tăng mạnh, đòi hỏi các chủ đầu tư khẩn trương tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng, vật liệu nhằm đảm bảo tiến độ kế hoạch năm.
Sắp diễn ra tọa đàm CBAM và chuyển đổi xanh tại Hải Phòng

Sắp diễn ra tọa đàm CBAM và chuyển đổi xanh tại Hải Phòng

Ngày 29/5 tới đây, tại Hội trường Trung tâm TP Hải Phòng sẽ diễn ra chương trình tọa đàm “Ứng phó CBAM và tiêu chuẩn REACH – ZDHC: Doanh nghiệp chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh”, quy tụ các cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp và đại diện nhiều khu công nghiệp lớn nhằm cùng tìm giải pháp giúp doanh nghiệp thích ứng các “tiêu chuẩn xanh” toàn cầu đang ngày càng khắt khe.
Liên hợp quốc cảnh báo tăng trưởng GDP toàn cầu giảm tốc vì căng thẳng Trung Đông

Liên hợp quốc cảnh báo tăng trưởng GDP toàn cầu giảm tốc vì căng thẳng Trung Đông

Liên hợp quốc hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2026 xuống còn 2,5%, đồng thời cảnh báo nguy cơ lạm phát và bất ổn tài chính gia tăng tại nhiều nền kinh tế.
Quản lý thuế trước thách thức mới từ kinh tế số và giao dịch xuyên biên giới

Quản lý thuế trước thách thức mới từ kinh tế số và giao dịch xuyên biên giới

Theo ông Đặng Ngọc Minh sự bùng nổ kinh tế số và giao dịch xuyên biên giới đặt ra thách thức lớn cho quản lý thuế, đòi hỏi chuyển đổi mạnh sang quản lý theo dữ liệu và dòng tiền.