Thứ bảy 07/02/2026 09:41
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Vốn FDI thực hiện tháng 1/2026 cao nhất trong 5 năm trở lại đây

Vốn FDI thực hiện tháng 1/2026 cao nhất trong 5 năm trở lại đây

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/2, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) thực hiện tại Việt Nam trong tháng 1/2026 ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Diễn biến lạm phát tháng 01/2026: Lạm phát cơ bản duy trì ở mức cao dù CPI tăng nhẹ

Diễn biến lạm phát tháng 01/2026: Lạm phát cơ bản duy trì ở mức cao dù CPI tăng nhẹ

Sự chênh lệch giữa CPI chung và lạm phát cơ bản tiếp tục cho thấy những yếu tố nền tảng của lạm phát vẫn đang chịu sức ép.
Gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tháng 1

Gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tháng 1

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 1/2026, cả nước có gần 49.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cho thấy tín hiệu tích cực của môi trường kinh doanh ngay từ đầu năm.
Hàng chục tỷ USD tạo “khối kinh tế liền mạch” Campuchia – Lào

Hàng chục tỷ USD tạo “khối kinh tế liền mạch” Campuchia – Lào

Dòng vốn hàng chục tỷ USD từ Việt Nam đang “bắc cầu” sang Campuchia, Lào, hình thành chuỗi sản xuất – tiêu thụ liền mạch từ nông nghiệp, viễn thông đến hạ tầng, đưa Đông Dương thành không gian kinh tế thống nhất.
Quảng Ninh thông qua 9 nghị quyết quan trọng, tạo động lực bứt phá tăng trưởng năm 2026

Quảng Ninh thông qua 9 nghị quyết quan trọng, tạo động lực bứt phá tăng trưởng năm 2026

Ngày 05/02/2026, Kỳ họp thứ 35 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XIV, nhiệm kỳ 2021–2026 đã diễn ra và hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình theo luật định. Kỳ họp không chỉ quyết định nhiều vấn đề cấp thiết trước mắt mà còn khép lại một nhiệm kỳ đầy dấu ấn đổi mới, bản lĩnh và khát vọng phát triển mạnh mẽ của tỉnh.
Lâm Đồng đẩy mạnh tháo gỡ vướng mắc 359 dự án ngoài ngân sách

Lâm Đồng đẩy mạnh tháo gỡ vướng mắc 359 dự án ngoài ngân sách

Lâm Đồng đang triển khai một chiến dịch xử lý vướng mắc đối với các dự án đầu tư ngoài ngân sách với quy mô chưa từng có, coi đây là chìa khóa để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư trong giai đoạn 2026 trở đi.
Mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội có thể hoàn thành sớm hai năm

Mục tiêu 1 triệu căn nhà ở xã hội có thể hoàn thành sớm hai năm

Nhờ tốc độ triển khai tăng tốc và chính sách đồng bộ từ trung ương đến địa phương, mục tiêu xây dựng 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030 có thể về đích sớm hai năm.
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam mở rộng ngành bô-xít gần 60.000 tỷ đồng tại Lâm Đồng

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam mở rộng ngành bô-xít gần 60.000 tỷ đồng tại Lâm Đồng

UBND tỉnh Lâm Đồng đã chính thức trao Quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư cho hai dự án mở rộng, nâng công suất các nhà máy alumin trên địa bàn tỉnh với tổng mức đầu tư xấp xỉ 59.855 tỷ đồng.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thông quan 24/7, lập đường dây nóng tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thông quan 24/7, lập đường dây nóng tháo gỡ vướng mắc Nghị định 46

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương tháo gỡ vướng mắc khi triển khai Nghị định 46, lập đường dây nóng 24/7, bố trí lực lượng làm việc xuyên đêm tại cửa khẩu để giải tỏa ùn ứ, bảo đảm thông quan nhanh thực phẩm và hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đẩy nhanh Tổng điều tra kinh tế 2026: Rút ngắn 7 tháng, ứng dụng AI giám sát thời gian thực

Đẩy nhanh Tổng điều tra kinh tế 2026: Rút ngắn 7 tháng, ứng dụng AI giám sát thời gian thực

Bộ Tài chính yêu cầu đẩy nhanh tiến độ Tổng điều tra kinh tế 2026, thống nhất công bố kết quả sơ bộ chậm nhất vào 30/6/2026, rút ngắn tổng thời gian thực hiện 7 tháng so với kế hoạch. Cuộc điều tra lần đầu mở rộng thu thập dữ liệu kinh doanh trực tuyến, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và bản đồ số để giám sát theo thời gian thực, hướng tới bức tranh toàn diện về nền kinh tế ngay năm đầu giai đoạn phát triển mới.
Hà Nội hút hơn 100 triệu USD vốn FDI ngay tháng đầu năm 2026

Hà Nội hút hơn 100 triệu USD vốn FDI ngay tháng đầu năm 2026

Bước vào năm 2026, Hà Nội ghi nhận tín hiệu tích cực về thu hút đầu tư nước ngoài khi tổng vốn FDI trong tháng 1 đạt 102 triệu USD. Cùng với đó, hoạt động đăng ký doanh nghiệp khởi sắc mạnh, phản ánh sự cải thiện của môi trường đầu tư, kinh doanh trên địa bàn Thủ đô.
Việt Nam xây dựng thương hiệu quốc gia, đặt mục tiêu Top 3 ASEAN về sức mạnh mềm

Việt Nam xây dựng thương hiệu quốc gia, đặt mục tiêu Top 3 ASEAN về sức mạnh mềm

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn 2045, đặt mục tiêu xây dựng thương hiệu quốc gia mạnh, lọt Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về sức mạnh mềm.
Tổ chức quốc tế đồng loạt nâng dự báo, kinh tế Việt Nam 2026 được kỳ vọng tăng tốc

Tổ chức quốc tế đồng loạt nâng dự báo, kinh tế Việt Nam 2026 được kỳ vọng tăng tốc

Sau khi GDP 2025 tăng 8,02%, nhiều tổ chức quốc tế như AMRO, UOB, HSBC, World Bank nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên 6,3–7,6%, nhờ FDI, xuất khẩu công nghệ cao và tiêu dùng nội địa.
Hải Phòng: Kinh tế – xã hội tháng 1/2026 khởi sắc, tạo đà bứt phá cho năm “Kỷ nguyên mới”

Hải Phòng: Kinh tế – xã hội tháng 1/2026 khởi sắc, tạo đà bứt phá cho năm “Kỷ nguyên mới”

Bước sang năm 2026 – năm bản lề mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và triển khai các chiến lược phát triển dài hạn – Hải Phòng đã khởi động bằng một tháng đầu năm đầy khí thế. Với tinh thần “Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”, thành phố Cảng không chỉ ghi nhận những con số tăng trưởng ấn tượng, mà còn lan tỏa một tâm thế phát triển mới: tự tin, quyết liệt và sẵn sàng bứt phá.
Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông: Tăng trưởng GRDP của Phú Thọ 2025 đạt 10,52%, thuộc nhóm cao nhất nước

Sau sáp nhập ba tỉnh, Phú Thọ ghi nhận tăng trưởng cao, thu hút mạnh vốn FDI và nội địa, cải cách hành chính quyết liệt, khẳng định vai trò tăng trưởng mới miền Bắc.