Thứ năm 02/04/2026 09:25
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Khủng hoảng thất nghiệp

12/10/2020 00:00
(TBKTSG) - Thứ Ba tuần trước (7-7-2020), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo Triển vọng việc làm 2020, nhấn mạnh cuộc khủng hoảng về sức khỏe do dịch Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng việc làm.

Ngành dệt may - một trong những ngành hiện đang có tỷ lệ người lao động bị mất việc cao. Ảnh: THÀNH HOA

Những hệ lụy nguy hiểm từ thất nghiệp

Khủng hoảng việc làm hiện nay bỏ xa các đợt khủng hoảng khác kể từ cuộc đại suy thoái năm 1930. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp của OECD là 8,4% với 54,4 triệu lao động. Theo ước tính của tổ chức này, tỷ lệ thất nghiệp của các nước thành viên đến cuối năm nay vào khoảng 9,4%, và dự kiến không thể phục hồi trước năm 2021 trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự báo giảm 6% năm nay. Ở nhiều nước, số giờ làm việc giảm gấp 10 lần so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nhưng mức độ bị ảnh hưởng của các nhóm lao động trong cùng một nền kinh tế là khác nhau. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là nhóm lao động trẻ, phụ nữ, những nhóm công việc được trả lương thấp, công việc tạm thời hay tự kinh doanh. Trong giai đoạn giãn cách xã hội, những lao động có thu nhập thấp có rủi ro bị mất việc làm gấp 2 lần so với đồng nghiệp có thu nhập cao. Ngoài ra, nhóm lao động có thu nhập cao thì có nhiều khả năng được làm việc tại nhà hơn là lao động có thu nhập thấp vì tính chất công việc của họ có thể làm được qua Internet.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hệ lụy của thất nghiệp, trong đó có hai hệ lụy chính là đói nghèo và sức khỏe. Rơi vào ngưỡng đói nghèo có thể dễ hình dung đối với những lao động có thu nhập thấp, sẽ nghiêm trọng hơn ở những nơi chế độ bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội chưa đủ đảm bảo. Khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cũng bị giảm hoặc cắt, do đó người lao động phải chi trả thêm từ tiền túi của mình nếu không may bị bệnh tật.

Tuy vậy, khả năng rơi vào diện nghèo cũng dễ xảy ra đối với một số lao động có thu nhập cao khi bị thất nghiệp. Đó là vì những người này không có tích lũy dự phòng rủi ro, chi tiêu chủ yếu dựa vào tín dụng trên mức lương hiện tại của mình. Có những người vay mua nhà vượt quá nhu cầu và khả năng tài chính của mình, thường xuyên thay đổi xe, có các chuyến du lịch xa xỉ, dùng nhiều đồ hiệu trong khi các khoản chi này đều dựa vào tín dụng. Khi thất nghiệp ập đến, thu nhập giảm mạnh đột ngột nhưng các khoản nợ định kỳ vẫn phải trả, sẽ dẫn đến túng quẫn như một số trường hợp làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở cuộc khủng hoảng năm 2008.

Hệ lụy thứ hai không kém phần quan trọng là sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần. Tâm lý chung của người bị thất nghiệp là chán nản, căng thẳng, có thể chuyển sang trầm cảm. Những người này cũng có xu hướng gia tăng sử dụng các chất gây nghiện như thuốc lá, thức uống có cồn, hay thậm chí ma túy. Ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp tốt, các chế độ an sinh xã hội hỗ trợ cho người lao động thì sang chấn tâm lý của người bị thất nghiệp là rất lớn vì cảm thấy mình là người thất bại, trở thành gánh nặng của xã hội.

Vai trò của bảo hiểm

Trong số các nước có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội tốt nhất, có thể kể đến nước Pháp. Ở đây, người lao động bị thất nghiệp được hưởng trợ cấp trung bình 79% đối với thu nhập thấp và 64% đối với thu nhập cao, trong khoảng thời gian 24-36 tháng. Với mức trợ cấp này, người lao động vẫn có thể đảm bảo các nhu cầu chi tiêu tối thiểu, nhưng ảnh hưởng về sức khỏe và tâm lý là không thể tránh được.

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người

Để giảm thiểu hệ lụy của thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp là một công cụ hữu hiệu mà hầu hết các chính phủ đều triển khai để bảo vệ người lao động. Nhưng cách vận hành ở mỗi nước là khác nhau, thậm chí khác nhau giữa các bang trong cùng một nước có thể chế liên bang.

Sự khác nhau về quyền lợi của người lao động thất nghiệp được xác định ở ba yếu tố: tỷ lệ được hưởng so với mức thu nhập trước đó, thời gian được hưởng, và các hỗ trợ tìm việc làm mới. Các nước thường quy định tỷ lệ hưởng ở mức 60-80%, có nước quy định thu nhập cao thì tỷ lệ hưởng thấp hơn để thực hiện chức năng điều tiết. Thời gian được hưởng có thể dao động từ trung bình sáu tháng như ở Mỹ (tùy theo bang), lên đến 24 tháng như ở Pháp, có nước cho gia hạn thêm một thời gian nhưng người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cuối cùng là hỗ trợ tìm việc làm mới, cũng với các chính sách và cách thức tổ chức khác nhau.

Ở Việt Nam thì sao?

Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến thất nghiệp ở Việt Nam có lẽ còn nghiêm trọng hơn. Theo thống kê sáu tháng đầu năm 2020, số lao động bị ảnh hưởng lên đến 30 triệu người, phần lớn bị giảm thu nhập do giảm giờ làm hoặc bị thất nghiệp. Theo quy định hiện nay, người lao động ở Việt Nam được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, với mức hưởng 60% bình quân lương sáu tháng trước đó, và tối đa là 5 lần lương tối thiểu vùng.

Nhưng thu nhập thực tế của rất nhiều người lao động lại không giống như bảng lương để tính bảo hiểm xã hội, vì có nhiều khoản hỗ trợ hay thu nhập tăng thêm được hạch toán để né không tính vào thu nhập đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Lúc này, phần thiệt của người lao động mới thấy được rõ.

Một vấn đề khác của người lao động Việt Nam là tỷ lệ lao động phi chính thức còn rất cao, đến cuối năm 2019 là 54,6% và hầu hết các lao động này không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghĩa là không có bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy có thể thấy, một phần lớn lao động thất nghiệp do dịch Covid-19 ở Việt Nam sẽ không có trợ cấp thất nghiệp, số có được trợ cấp thì trợ cấp nhận được cũng chênh lệch khá nhiều so với thu nhập thực tế trước đó. Tình cảnh sẽ càng khó khăn hơn đối với các lao động di cư, vì các chi phí nhà ở, ăn uống dù ở mức tối thiểu nhất cũng là một gánh nặng lớn đối với họ.

Mặc dù sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong lúc khó khăn, nhưng người lao động cần chú ý hơn đến việc tích cốc phòng cơ, trích dành một phần thu nhập khi đang có việc làm vào một quỹ dự phòng, thường cần đủ cho sáu tháng đến một năm. Quan trọng hơn, cần biết và đấu tranh cho quyền lợi của mình trong việc thực hiện hợp đồng lao động, đưa hết các thu nhập vào chính thức để tính đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, cũng cần luôn trau dồi, học thêm những kiến thức cũng như kỹ năng mới, để có khi cần thiết cho việc chuyển đổi sang công việc khác

TS. Võ Đình Trí

Tin bài khác
Siết điều hành giá: Chính phủ yêu cầu chặn đầu cơ, găm hàng

Siết điều hành giá: Chính phủ yêu cầu chặn đầu cơ, găm hàng

Trước sức ép từ xung đột Trung Đông khiến giá dầu, logistics và vận tải biển biến động mạnh, Chính phủ đã ban hành Công điện 28/CĐ-TTg yêu cầu siết công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá. Trọng tâm là giữ ổn định nguồn cung, ngăn đầu cơ găm hàng, xử lý tăng giá bất hợp lý và phối hợp chặt chính sách tiền tệ, tài khóa để kiểm soát lạm phát.
Hoàn thiện Quy chế hoạt động Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Hoàn thiện Quy chế hoạt động Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Dự thảo Quy chế hoạt động của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam đang được rà soát thêm một bước quan trọng trước khi ban hành. Tại cuộc họp chiều 1/4, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình yêu cầu cơ quan điều hành tiếp thu đầy đủ ý kiến, viết lại tờ trình và tiếp tục lấy ý kiến bằng văn bản để hoàn thiện khung vận hành cho mô hình “một trung tâm, hai điểm đến”.
Đồng Tháp: “Kỷ cương, trách nhiệm, quyết liệt đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026”

Đồng Tháp: “Kỷ cương, trách nhiệm, quyết liệt đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026”

Đó là lời nhấn mạnh của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thành Ngại tại cuộc họp về tình hình giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 và tiến độ chuẩn bị đầu tư các dự án trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Đánh thức tiềm năng hồ chứa: Nuôi trồng thủy sản hướng tới quy mô 16.000 tỷ đồng mỗi năm

Đánh thức tiềm năng hồ chứa: Nuôi trồng thủy sản hướng tới quy mô 16.000 tỷ đồng mỗi năm

Nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa đang được xác định là một trong những dư địa tăng trưởng quan trọng của ngành thủy sản. Với định hướng phát triển bài bản, lĩnh vực này được kỳ vọng đạt sản lượng trên 260.000 tấn, tương ứng giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi năm vào năm 2030.
Ngành khoa học và công nghệ tăng tốc: Doanh thu tháng 3 vượt 516 nghìn tỷ đồng

Ngành khoa học và công nghệ tăng tốc: Doanh thu tháng 3 vượt 516 nghìn tỷ đồng

Tháng 3/2026 ghi nhận bức tranh tích cực của ngành khoa học và công nghệ với mức tăng trưởng doanh thu và đóng góp GDP ấn tượng, trong bối cảnh cơ quan quản lý đẩy mạnh hoàn thiện thể chế và chuyển đổi mô hình quản trị theo hướng kiến tạo phát triển.
Xây dựng dữ liệu đất đai quốc gia 2026 quyết tâm cao, không thể trì hoãn tiến độ

Xây dựng dữ liệu đất đai quốc gia 2026 quyết tâm cao, không thể trì hoãn tiến độ

Mục tiêu hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trong năm 2026 được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước.
Gỡ “nút thắt” đầu tư vào nông nghiệp: Chính sách mới hướng tới trúng – đúng – đủ lực

Gỡ “nút thắt” đầu tư vào nông nghiệp: Chính sách mới hướng tới trúng – đúng – đủ lực

Dự thảo nghị định khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đang được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, đồng bộ và sát thực tiễn, với trọng tâm tháo gỡ rào cản, tập trung nguồn lực vào những khâu còn “khát vốn” của khu vực doanh nghiệp.
Tái định vị du lịch Việt, hướng tới mốc 14% GDP

Tái định vị du lịch Việt, hướng tới mốc 14% GDP

Ngành du lịch Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mang tính bản lề, từ tăng trưởng theo số lượng sang phát triển theo chiều sâu, chất lượng và bền vững. Với mức đóng góp trực tiếp khoảng 8,8% GDP năm 2025, ngành được kỳ vọng sẽ vươn tới mốc 14% vào năm 2030 theo định hướng quy hoạch mới.
Hà Nội phải giữ bằng được “vận tốc mới”, tạo nền cho phát triển bền vững

Hà Nội phải giữ bằng được “vận tốc mới”, tạo nền cho phát triển bền vững

Qua kiểm tra, giám sát đợt 1, Hà Nội được đánh giá đã hình thành khí thế mới, nhịp độ mới trong lãnh đạo, điều hành. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra với Thủ đô không chỉ là duy trì chuyển biến ban đầu, mà phải biến kết quả bước đầu thành xu thế phát triển bền vững, gắn với tăng trưởng, kỷ luật công vụ và hiệu quả thực thi trong toàn hệ thống chính trị.
Thủ tướng Chính phủ: Giảm tiền điện, thúc đẩy điện mặt trời mái nhà đến từng hộ gia đình

Thủ tướng Chính phủ: Giảm tiền điện, thúc đẩy điện mặt trời mái nhà đến từng hộ gia đình

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg, yêu cầu tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà, với trọng tâm vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Việt Nam giữ đà tăng trưởng cao trong nhóm Đông Nam Á-6

Việt Nam giữ đà tăng trưởng cao trong nhóm Đông Nam Á-6

Sau mức tăng trưởng GDP thực 8% trong năm 2025, cao nhất nhóm Đông Nam Á-6, Việt Nam tiếp tục được dự báo duy trì đà phát triển tích cực trong năm 2026. Bên cạnh các động lực từ xuất khẩu, sản xuất và dịch vụ, bất động sản công nghiệp, bán lẻ và trung tâm dữ liệu đang mở thêm dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Hải Phòng đề xuất thu phí 0 đồng hạ tầng cảng biển với xăng dầu: Chia sẻ khó khăn, giữ vững nguồn cung

Hải Phòng đề xuất thu phí 0 đồng hạ tầng cảng biển với xăng dầu: Chia sẻ khó khăn, giữ vững nguồn cung

Trước những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, đặc biệt từ xung đột tại Trung Đông, TP Hải Phòng đang chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp xăng dầu. Đáng chú ý, thành phố đề xuất áp dụng mức thu phí hạ tầng cảng biển 0 đồng đối với hàng lỏng trong 9 tháng cuối năm 2026, góp phần giảm chi phí và bảo đảm nguồn cung nhiên liệu cho thị trường.
Nghi Sơn và bài toán dự trữ năng lượng chiến lược của Việt Nam

Nghi Sơn và bài toán dự trữ năng lượng chiến lược của Việt Nam

Chuyến làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt cho hoạt động cung ứng nhiên liệu, mà còn đặt ra một bước đi dài hạn cho an ninh năng lượng quốc gia.
Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc hoàn thành sân bay Long Thành trong năm 2026

Tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc hoàn thành sân bay Long Thành trong năm 2026

Trong chuyến kiểm tra thực địa chiều 29/3 tại dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các công trình kết nối, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và nhà thầu khẩn trương tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc, tăng tốc thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động và mục tiêu đưa sân bay vào khai thác trong quý IV/2026.
Phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam: Kỳ vọng tạo cú hích tăng trưởng

Phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam: Kỳ vọng tạo cú hích tăng trưởng

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc vừa ký Quyết định số 498 phê duyệt Đề án cơ cấu lại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035, với định hướng phát triển thành Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng trong tiến trình tái cơ cấu toàn diện ngành đường sắt, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả khai thác.