Chủ nhật 06/09/2026 08:34
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Dệt may với cơ hội từ EVFTA: Những việc phải làm ngay

12/10/2020 00:00
Người châu Âu chuộng hàng dệt may Việt Nam, còn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn mong muốn tăng xuất khẩu vào thị trường EU, một thị trường quan trọng mang lại tăng trưởng cho ngành dệt may.

Bình thường hay thận trọng ?

Việc Quốc hội có thể sẽ phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU (EVFTA) vào ngày 28/5 đã tạo nhiều hứng khởi cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, bắt đầu bằng lộ trình giảm thuế kể từ đầu tháng 8 tới.

Trong khi đó, các biện pháp kiểm soát Covid-19 của châu Âu đang phát huy tác dụng, một số nước đã từng bước mở cửa lại kinh tế. Công ty Việt Thắng Jean (Vitajean) hy vọng sẽ sớm lấy lại được đà sản xuất và xuất khẩu trong quý II, thị trường đã làm ăn suốt 30 năm qua.

Những công ty xuất khẩu hàng dệt may như Việt Thắng Jean, May 10 hay Vinatex đang đặt cược vào tiềm năng tăng trưởng dài hạn vào thị trường hơn 600 triệu người tiêu dùng này nhằm giảm bớt những tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và dịch Covid 19.

Kỳ vọng này lấn át cả thay đổi về hành vi tiêu dùng hàng dệt may. Theo ông Denis Gouttenoire, Chuyên gia Chương trình Xúc tiến nhập khẩu Thụy Sỹ (Sippo), thị trường đang chịu sự dẫn dắt của hai xu hướng: tiêu dùng “bình thường” như trước dịch bệnh và “ thận trọng” hơn rất nhiều.

Theo Denis, người tiêu dùng muốn bù đắp lại khoảng thời gian bị giãn cách nên sẽ tiêu dùng tưng bừng hơn, đây là một hướng có thể xảy ra. Nhưng nhiều chuyên gia cho rằng xu hướng này sẽ không tiếp tục vào hậu Covid-19, khi có đến 65% nhà mua hàng châu Âu nói sẽ không mua nhiều như trước.

Ngay cả trong mạng lưới của Sippo, các chuyên gia cũng nghĩ rằng xu hướng “tiêu dùng thận trọng” có nhiều khả năng xảy ra hơn, kéo theo đó là các yêu cầu về chất lượng, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.

“Những ảnh hưởng về tài chính cũng là một lý do làm cho người tiêu dùng châu Âu thận trọng hơn khi mua sắm các sản phẩm thời trang, nhất là phân khúc xa xỉ, ngay cả khi họ được nhận trợ cấp”, Denis nói.

Covid-19 đã đẩy mối quan tâm của người tiêu dùng về tài chính lên mức “tương đối cao”, theo kết quả khảo sát hồi tháng 4/2020 của Hãng kiểm toán Deloitte thực hiện trên 13 quốc gia với 1.000 người tiêu dùng ở mỗi nước.

Tính trung bình, 42% những người được hỏi cho biết họ lo sợ mất việc làm, tỉ lệ này cao nhất ở Tây Ban Nha, quốc gia trong khối Liên minh châu Âu, tới 62%. Những người tham gia khảo sát ở Tây Ban Nha cũng thể hiện sự lo ngại đối với việc thực hiện các khoản thanh toán sắp tới.

Những người được khảo sát ở Anh, Tây Ban Nha và Italia cũng tỏ sự bất an hơn các quốc gia khác, theo Deloitte khả năng việc tiếp tục kéo dài lệnh bắt buộc ở nhà để ngăn ngừa dịch bệnh tại các nước này, gây ảnh hưởng đến công việc và thu nhập.

Việt Nam xem xét phê chuẩn EVFTA trong bối cảnh ngành thời trang châu Âu đang rơi vào khủng hoảng tài chính, thị trường ghi nhận rất nhiều đăng ký phá sản. Tại thị trường Anh, các thương hiệu như Finigans, Freemont, đã đăng ký hồ sơ xin công bố khó khăn tài chính, thậm chí xin phá sản.

“Mức độ tiêu dùng sẽ nhỏ giọt hơn rất nhiều so với trước đại dịch. Xu hướng này không chỉ của năm nay mà còn kéo sang năm 2021”, Denis nói và cho biết: “Nhiều nhà mua hàng nói rằng chưa thể biết người tiêu dùng sẽ mua loại hàng hóa nào”.

Những hành vi điều chỉnh của người tiêu dùng, theo Denis sẽ dẫn tới sự điều chỉnh của các nhà mua về chính sách mua hàng. Họ sẽ tìm kiếm những nhà cung cấp đáp ứng tốt hơn các giá trị về môi trường và trách nhiệm xã hội.

Linh hoạt, khả năng thích ứng và minh bạch là những yếu tố các nhà mua hàng kỳ vọng ở các nhà cung cấp, đồng nghĩa với việc các nhà cung ứng phải linh hoạt hơn, sáng tạo hơn, giao hàng nhanh hơn và đáp ứng được các yêu cầu của cả những đơn hàng nhỏ, Denis khuyến cáo.

Những việc phải làm ngay

EVFTA nếu có hiệu lực vào tháng 8 tới, phía EU sẽ lập tức dỡ bỏ 85,6% số dòng thuế, giúp tăng năng lực cạnh tranh cho 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này. Tuy nhiên, lợi ích từ hiệp định thế hệ mới này sẽ không đến sớm với ngành dệt may.

Theo dữ liệu của Vinatex, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu kép (tăng trưởng được tích lũy trong một thời gian dài) của Việt Nam vào EU trong 5 năm qua đã tăng gần 9%, nhưng tỷ trọng xuất khẩu dệt may vào EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam ra thế giới trong 5 gần đây đã giảm từ 17,1% năm 2015 xuống 16,3% năm 2019.

Quy tắc xuất xứ “từ vải trở đi” của EVFTA cũng là thách thức không chỉ trong ngắn hạn đối với ngành dệt may Việt Nam khi chưa có đủ vải chất lượng cao để sản xuất hàng xuất khẩu vào EU, trong khi nhập khẩu từ những quốc gia có FTA với EU như Hàn Quốc, cũng có hạn chế nhất định.

Hiện, 90% nguyên phụ liệu của dệt may Việt Nam đang nhập khẩu từ các nguồn không phải là thành viên EVFTA và không được ưu đãi cộng gộp của Hiệp định. Năm 2018, ngành dệt may nhập từ Trung Quốc lượng vải lên tới 7,1 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm 2017.

Trong khi đó, phương án mua vải trong nước cũng không khả thi. Việc doanh nghiệp phải trả thuế VAT 10% đã làm giá vải trong nước cao hơn giá vải nhập khẩu, trong khi những lợi ích về cắt giảm thuế quan của EVFTA lại chưa đủ bù đắp để có giá bán cạnh tranh so với các quốc gia khác cùng xuất khẩu vào EU.

Thế nhưng, EVFTA vẫn có thể mang lại nhưng lợi ích dài hạn cho ngành dệt may. Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), tin rằng, thị trường sẽ có sự dịch chuyển mạnh mẽ khi EVFTA có hiệu lực và thuế về 0%.

EVFTA sẽ giúp Việt Nam gia tăng thị phần xuất khẩu vào thị trường EU thông qua giảm thuế quan và cạnh tranh về thuế của các nước Bangladesh, Campuchia, Pakistan để xuất khẩu vào thị trường này, cũng vì thế mà bớt khốc liệt hơn.

Với EVFTA, lợi thế cạnh tranh về thuế của các quốc gia cạnh tranh như Bangladesh, Campuchia, Pakistan sẽ không nhiều ý nghĩa. Đặc biệt với Campuchia, quốc gia có mức tăng trưởng kép mạnh nhất vào EU trong 5 năm qua, từ 2,8 tỷ USD năm 2013 lên 6,3 tỷ USD năm 2018, không tính Trung Quốc, cường quốc số 1 thế giới về xuất khẩu dệt may.

Thậm chí, Campuchia có thể sẽ chính thức bị loại khỏi chương trình ưu đãi thuế quan GSP từ tháng 8/2020 và thuế nhập khẩu hàng dệt may của Campuchia vào EU cũng sẽ tăng lại 12% do vi phạm một số nguyên tắc về theo quy định của EU.

Dù vậy, Chính phủ Việt Nam cũng có nhiều việc phải làm ngay để ngành dệt may được hưởng lợi từ EVFTA. Chính phủ cần sớm điều chỉnh quy hoạch đối với ngành dệt may, giai đoạn 2020-2040 do Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã “lỗi thời”, theo ông Giang

Theo quy hoạch cũ của ngành dệt may, đến năm 2020 ngành dệt may sẽ xuất khẩu đạt 20 tỷ USD, nhưng đến năm 2015 Việt Nam đã đạt kim ngạch xuất khẩu 27,5 tỷ USD và dự kiến năm 2016 này là 31 tỷ USD.

Đến nay, Việt Nam vẫn đặt trọng tâm xuất khẩu vào thị trường Mỹ, một trong những lý do chính khiến ngành dệt may lao đao trong suốt 2 năm qua do liên tiếp chịu tác động kép, từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và Covid-19.

Nước ta cần nhanh chóng định hướng và cơ cấu lại thị trường xuất khẩu hàng dệt may, thay vì tiếp tục tập trung chính vào thị trường Mỹ, chiếm tới 46% tổng xuất khẩu, Chủ tịch Vitas thúc giục khi việc phê chuẩn và EVFTA có hiệu lực chỉ còn tính bằng ngày.

Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 8 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực theo 4 lộ trình: A, B3, B5 và B7. Cụ thể:

- A: thuế quan được xóa bỏ về 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực;

- B3: về -3%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 4 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%;

- B5: về -2%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 6 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%;

- B7: về -1.5%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 8 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%./.

PV

Tin bài khác
4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án tồn đọng cần được khơi thông để tạo dư địa tăng trưởng

4.619 dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài liên quan khoảng 203.660 ha đất và tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng đang cho thấy một lượng nguồn lực rất lớn của nền kinh tế chưa được khai thác hiệu quả. Bài toán hiện nay không chỉ là xử lý sai phạm, mà còn phải tháo gỡ đúng pháp luật để đất đai, công trình và vốn đầu tư đủ điều kiện sớm quay trở lại nền kinh tế.
Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh chuyển lợi thế địa kinh tế thành sức cạnh tranh mới

Tây Ninh định hướng phát huy lợi thế địa kinh tế, phát triển logistics, thương mại điện tử, chế biến sâu và kiểm soát xuất xứ, qua đó nâng giá trị xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Từ Cái Mép Hạ đến Cần Giờ, trục logistics quốc tế đang thành hình?

Sự kết nối Cái Mép - Thị Vải, khu thương mại tự do (FTZ) Cái Mép Hạ, Cần Giờ, Long Thành và các vùng công nghiệp phía Đông đang mở ra một cấu trúc logistics mới cho TP. Hồ Chí Minh.
Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Dù thừa nhận áp lực rất lớn để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định thành phố không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng 11%. Từ nay đến cuối năm, toàn hệ thống được yêu cầu tăng tốc, tập trung vào những lĩnh vực còn nhiều dư địa, đặc biệt là xây dựng và đầu tư.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện dự án phục hồi các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê theo lộ trình, xác định rõ công trình ưu tiên, nguồn lực và cơ chế vận hành, bảo đảm đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đó.
TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

8 tháng năm 2026, TP. H Chí Minh giải ngân 85.141 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 57,7% kế hoạch năm, cao hơn bình quân chung cả nước; thu hút hơn 10 tỷ USD FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ.
Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, yêu cầu xử lý dự án tồn đọng được đặt cùng với giải ngân đầu tư công, tháo gỡ thủ tục và nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là đưa những nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.
Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Từ phát triển chuỗi cung ứng, logistics đến công nghệ, năng lượng xanh và tài chính, Việt Nam đề xuất 5 định hướng trọng tâm nhằm đưa hợp tác kinh tế Nga - ASEAN từ tiềm năng sang những dự án, dòng thương mại và đầu tư cụ thể, có kết quả đo lường được.