Thứ bảy 05/09/2026 02:05
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi

12/10/2020 00:00
Nguyên nhân khiến xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh là do ảnh hưởng từ xung đột thương mại Mỹ - Trung.
Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
C huyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Trao đổi với Kinh tế & Đô thị, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc Việt Nam cần làm trong bối cảnh hiện tại là phải khẩn trương thay đổi cách nhìn nhận và tiếp cận thị trường Trung Quốc để xuất khẩu bền vững, giảm thiểu rủi ro.

Hệ lụy tất yếu của xung đột thương mại Mỹ - Trung

Trung Quốc vốn là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Tuy nhiên, từ đầu năm 2019, lượng nông sản xuất khẩu sang thị trường này đang sụt giảm mạnh. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, thưa ông?

- Có 2 nguyên nhân chính. Thứ nhất, trong cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Trung Quốc giảm lượng xuất khẩu sang Mỹ do Mỹ áp thuế 300 tỷ USD lên hàng hóa của nước này. Với bối cảnh hiện tại đang dư thừa sản phẩm nông nghiệp, Trung Quốc không có nhu cầu nhập khẩu nông sản Việt Nam nhiều như trước đây, dẫn đến việc giảm lượng xuất khẩu nông sản của ta sang thị trường này.

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
 Kiểm tra hàng nông sản trước khi xuất khẩu sang Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai. Ảnh: Lam Thanh

Thứ hai, do tỷ giá của đồng Nhân dân tệ xuống thấp so với đồng USD, trong khi giá trị của đồng Việt Nam so với USD thì giữ ở mức ổn định. Đồng nghĩa với đồng Nhân dân tệ đang giảm giá trị so với đồng Việt Nam, điều này khiến hàng nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc đắt đỏ hơn dẫn đến giảm lượng xuất khẩu nông sản của nước ta sang thị trường này.

Từ tháng 6/2019, Trung Quốc đã chính thức thay đổi chính sách nhập khẩu đối với nông sản Việt Nam, đó là chuyển từ nhập khẩu tiểu ngạch sang nhập khẩu chính ngạch. Kèm theo đó, siết chặt biện pháp quản lý chất lượng, truy xuất ngồn gốc đối với nông sản Việt. Ông đánh giá như thế nào về mức độ ảnh hưởng của chính sách này đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam?

- Theo tôi tất cả các mặt hàng nông sản của nước ta đều chịu ảnh hưởng. Chính sách của Trung Quốc là đang siết chặt nhập khẩu các mặt hàng nông sản của ta và những biện pháp họ đưa ra mang tính kỹ thuật đó là những yêu cầu về vệ sinh ATTP, chất lượng… buộc hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng với những tiêu chí này.

Có nghĩa là Trung Quốc đang dùng rào cản về kỹ thuật để giảm lượng nhập khẩu nông sản từ Việt Nam; đồng thời, chuyển từ tiểu ngạch sang chính ngạch để họ dễ kiểm soát hơn. Việc làm này thể hiện rõ ràng mục đích Trung Quốc muốn giảm lượng nhập khẩu nông sản từ Việt Nam.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc thay đổi chính sách nhập khẩu là một trong những động thái Trung Quốc muốn làm khó cho nông sản Việt Nam. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Tôi nghĩ động thái này xuất phát từ mục đích Trung Quốc muốn hàng nội địa của họ được sử dụng nhiều hơn bởi họ đang gặp vấn đề về xuất khẩu. Hay có thể nói là họ đang dư cung đối với nhiều mặt hàng nên bắt buộc phải dùng mức tiêu thụ nội địa để tiêu thụ sản lượng hàng hóa dư. Vì vậy, họ giới hạn đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam để thực hiện mục đích nêu trên là điều dễ hiểu.

Vấn đề đáng lưu tâm là việc Trung Quốc nâng yêu cầu về chất lượng, vệ sinh ATTP, truy xuất nguồn gốc… giúp cho họ nhập khẩu các mặt hàng chất lượng tốt hơn và đúng với thông lệ quốc tế. Việc Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ đối với hàng nông sản nhập khẩu từ Việt Nam mặc dù là biện pháp mang tính đối phó tình thế nhưng cũng mang lại lợi ích lâu dài cho quốc gia này.

Xem xét giảm giá VND

Theo ông, liệu các biện pháp giới hạn nhập khẩu hàng Việt Nam vào Trung Quốc có được nới lỏng trong thời gian tới?

- Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung càng ngày càng leo thang mặc dù trước truyền thông quốc tế cả hai bên đều đưa ra nhiều tín hiệu tích cực nhưng thực chất quan hệ đôi bên càng ngày càng đi vào bế tắc. Thực tế cho thấy, Trung Quốc đang gặp khó khăn trong vấn đề phát triển kinh tế, việc đối đầu với Mỹ là rất bất lợi với Trung Quốc nên điều họ có thể làm trong giai đoạn này là đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa trong nước và hạn chế nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Câu chuyện này không chỉ xảy ra trong năm nay mà sẽ kéo dài hết năm 2020.

Xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc: Muốn bền vững phải thay đổi
 Hàng nông sản chờ xuất sang Trung Quốc tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn. Ảnh: Lam Thanh

Tuy nhiên, sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, nếu ông Donald Trump tái đắc cử thì tình hình có thể thay đổi. Hoặc nếu ông Donald Trump thất cử, đảng Dân chủ lên ngôi thì vấn đề hòa giải giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ dễ xảy ra hơn, từ đó, các biện pháp hạn chế xuất khẩu hàng Việt Nam của Trung Quốc có thể được nới lỏng.

Theo nhận định của ông thì diễn biến của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang ngày càng phức tạp và vượt quá dự báo của các cơ quan chức năng. Vậy, có giải pháp nào để ứng phó trước tình hình này?

- Nếu muốn tiếp tục duy trì xuất khẩu sang Trung Quốc thì hàng nông sản của chúng ta phải đáp ứng yêu cầu về vệ sinh y tế, chất lượng, nguồn gốc xuất xứ… Bên cạnh đó, chúng ta phải tìm kiếm, khai thác các thị trường khác như: Đông Nam Á, châu Phi, châu Mỹ nhằm phân bổ rủi ro cũng như bù trừ việc mất thị phần tại Trung Quốc.

Đối với nông dân, DN Việt cần phải hiểu đối tác nước ngoài họ cần những gì để đáp ứng cho chuẩn. Về phía Chính phủ, nên nghiên cứu, xem xét để cho Đồng Việt Nam (VND) giảm giá trong biên độ phù hợp, nếu VND cứ giữ đúng giá như hiện tại thì gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng hóa Việt Nam bán sang Trung Quốc sẽ đắt đỏ hơn. Theo tôi, việc giảm giá VND ở mức độ cả năm khoảng 3% là phù hợp.

Thay đổi để thích ứng thị trường

Ông có khuyến nghị nào dành cho nông dân và DN Việt giúp họ vượt rào cản, tiếp tục duy trì xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc?

- Trước hết, các bộ, ngành liên quan đến xuất khẩu cần phải nắm rõ được tình hình hiện tại và yêu cầu của các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là Trung Quốc với những rào cản họ đang giăng ra. Để vượt qua được những rào cản này, cả người nông dân và DN cần phải nắm bắt để đáp ứng yêu cầu thị trường, đồng thời nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa cũng như xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Đối với nông sản xuất khẩu đều phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Hiện, hàng Việt Nam đã thâm nhập đươc một số thị trường trên thế giới, song còn rất nhiều thị trường đang ngăn chặn hàng nông sản của Việt Nam vì lý do chất lượng, vệ sinh ATTP… chưa đạt tiêu chuẩn nên bắt buộc nông dân, DN phải hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn này một cách toàn vẹn hơn.

Phải chăng, thách thức siết chặt chính sách nhập khẩu nông sản của Trung Quốc cũng là cơ hội để Việt Nam thay đổi tư duy và hành động trong xuất khẩu hàng hóa ra thế giới?

- Chính xác! Việt Nam là nước xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, chè rất lớn trên thế giới, song thương hiệu “Made in Vietnam” trên thị trường nông sản thế giới vẫn chưa phổ biến. Hay nói cách khác, xuất khẩu của Việt Nam tốt về số lượng nhưng chưa đạt yêu cầu về chất lượng. Do đó, chúng ra cần phải nâng cao chất lượng đối với hàng nông sản xuất khẩu, không những đáp ứng thị trường Trung Quốc mà còn đáp ứng các thị trường khác, đặc biệt là các thị trường mà nước ta ký hiệp định thương mại tự do là CPTPP và EVFTA.

Với những yêu cầu thương mại cấp cao hơn, chắc chắn chất lượng hàng hóa Việt Nam phải được thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thế giới.

Mặt khác, trong bối cảnh Trung Quốc buộc chúng ta phải nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu nông sản không chỉ đáp ứng được yêu cầu nhập khẩu của Trung Quốc mà còn giúp cho Việt Nam cải tiến được chất lượng hàng nông sản xuất khẩu ra thế giới, để thế giới biết nhiều hơn đến những sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam”.

Xin cảm ơn ông!

"Gia nhập sân chơi CPTPP, hàng hóa nước ngoài đổ bộ vào Việt Nam sẽ ngày càng gia tăng, nhất là hàng giá rẻ từ Trung Quốc. Điều này buộc Việt Nam phải tăng cường tiêu thụ nội địa bằng các biện pháp nâng sức mua của người tiêu dùng.

Cùng với đó, nâng chất lượng của hàng nội địa nhằm nâng cao sức cạnh tranh đối với hàng nhập khẩu. Việc hàng hóa của Trung Quốc và khối các nước thuộc Hiệp định CPTPP tràn vào Việt Nam sẽ đẩy một số DN nội địa vào cảnh dần mất thị phần. Đây là rủi ro lớn đối với thị trường Việt Nam. Do đó, Chính phủ cần tính toán đến các DN nhập khẩu và luôn theo sát diễn biến thị trường thế giới để có kế hoạch ứng phó phù hợp." - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu

Ánh Ngọc (thực hiện)

Tin bài khác
Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Hà Nội giữ mục tiêu tăng trưởng 11%, dồn lực cho những tháng cuối năm

Dù thừa nhận áp lực rất lớn để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định thành phố không điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng 11%. Từ nay đến cuối năm, toàn hệ thống được yêu cầu tăng tốc, tập trung vào những lĩnh vực còn nhiều dư địa, đặc biệt là xây dựng và đầu tư.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu phục hồi đồng bộ ba hệ thống sông ô nhiễm

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện dự án phục hồi các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê theo lộ trình, xác định rõ công trình ưu tiên, nguồn lực và cơ chế vận hành, bảo đảm đầu tư đến đâu phát huy hiệu quả đến đó.
TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

TP. Hồ Chí Minh giải ngân 85.000 tỷ đồng, thu hút hơn 10 tỷ USD vốn FDI

8 tháng năm 2026, TP. H Chí Minh giải ngân 85.141 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 57,7% kế hoạch năm, cao hơn bình quân chung cả nước; thu hút hơn 10 tỷ USD FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ.
Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Gần 2.700 dự án được xử lý để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, yêu cầu xử lý dự án tồn đọng được đặt cùng với giải ngân đầu tư công, tháo gỡ thủ tục và nâng cao trách nhiệm thực thi. Mục tiêu là đưa những nguồn lực đang bị đình trệ trở lại nền kinh tế.
Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Doanh nghiệp đón loạt động lực mới từ điều hành kinh tế những tháng cuối năm

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn và mở thêm dư địa cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm 2026.
Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế 8 tháng giữ đà tích cực, Chính phủ yêu cầu tăng tốc những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026. Tuy nhiên, áp lực lạm phát, giải ngân đầu tư công, xử lý dự án tồn đọng và những tác động từ bên ngoài vẫn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành trong những tháng cuối năm.
Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Du lịch Việt Nam hướng tới 15 tập đoàn đủ sức cạnh tranh quốc tế vào năm 2030

Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế và hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách đạt 80% dự toán, chi đầu tư phát triển tăng 35,4%

Thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 80% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Ở chiều chi, đầu tư phát triển tiếp tục là điểm nhấn khi tăng 35,4%, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong khi các nhiệm vụ an sinh, quốc phòng, an ninh và trả nợ được bảo đảm.
Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

Dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, FDI thực hiện cao nhất 5 năm

8 tháng năm 2026, dòng vốn đầu tư tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực khi vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tăng 18,5%, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tăng tới 55,4%, cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tiếp tục được củng cố.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác quốc tế cho doanh nghiệp

Khi các khu kinh tế, khu công nghiệp, đặc khu và địa phương có nhu cầu hợp tác xuyên biên giới ngày càng lớn, dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) đặt ra một cách tiếp cận mới, mở rộng không gian hợp tác nhưng phải đi cùng dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát rủi ro.
Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tăng tốc, IIP 8 tháng đạt mức cao nhất nhiều năm

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 8/2026, đưa chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của 8 tháng trong nhiều năm qua, cho thấy hoạt động sản xuất đang có sự phục hồi và mở rộng trên diện rộng.
Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Việt Nam thúc đẩy 5 trụ cột hợp tác mới Nga - ASEAN

Từ phát triển chuỗi cung ứng, logistics đến công nghệ, năng lượng xanh và tài chính, Việt Nam đề xuất 5 định hướng trọng tâm nhằm đưa hợp tác kinh tế Nga - ASEAN từ tiềm năng sang những dự án, dòng thương mại và đầu tư cụ thể, có kết quả đo lường được.
Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch TP. Hồ Chí Minh và bài toán 800 tỷ USD

Quy hoạch tầm nhìn 100 năm mở ra không gian tăng trưởng lớn cho TP. Hồ Chí Minh. Nhưng 800 tỷ USD vào năm 2050 sẽ không đến từ mở rộng không gian, mà từ năng lực tạo ra giá trị mới.
Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Sân bay Long Thành bước vào chặng nước rút trước ngày vận hành thử

Khoảng 80% giá trị sản lượng đã được thực hiện, Dự án sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn hoàn thiện quyết định tiến độ vận hành. Các nhà thầu được yêu cầu tăng nhân lực, hoàn tất hồ sơ, nghiệm thu và chuẩn bị cho các đợt vận hành thử từ tháng 9.
Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tây Ninh: Không chỉ cần vốn, mà cần những dự án tạo giá trị

Tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2026 đạt 10,12%, quy mô kinh tế năm 2025 đứng thứ 9/34 tỉnh, thành phố và vốn FDI lũy kế hơn 26 tỷ USD. Với nền tảng này, bài toán của Tây Ninh trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là thu hút thêm vốn, mà là biến lợi thế sau hợp nhất thành những dự án có công nghệ, năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng thực chất.