Xuất khẩu khởi sắc, Trung Quốc tiếp tục là thị trường trọng điểm
Dù kim ngạch xuất khẩu giảm trong tháng trước do trùng kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn tăng gần 40% so với cùng kỳ, đạt hơn 11 tỷ USD.
Theo Cục Hải quan, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu, tiếp theo là điện thoại và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ và hàng dệt may. Nhiều mặt hàng nông nghiệp như rau quả, thủy sản, gạo và cà phê cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trọng điểm của Việt Nam. Bên cạnh các mặt hàng chủ lực, doanh nghiệp đang đẩy mạnh mở rộng thị phần với các nhóm hàng còn nhiều dư địa như cao su, hạt tiêu, sắn.
![]() |
| Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng gần 40%, thủy sản chịu áp lực chi phí và rào cản thương mại |
Theo số liệu của Cục Hải quan, năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 70,45 tỷ USD, tăng 14,8% so với năm trước. Một số nhóm hàng tăng mạnh như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 16,89 tỷ USD (tăng 33,6%), rau quả đạt 5,5 tỷ USD (tăng 18,8%) và thủy sản đạt 2,28 tỷ USD (tăng 31,9%).
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD - mức cao nhất từ trước đến nay, có thể lên tới 11,6 tỷ USD nếu tính thêm các sản phẩm liên quan. Bước sang năm 2026, trong 2 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy ngành vẫn duy trì được đà tăng trưởng nhất định.
Thông tin tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý I/2026, bà Lê Hằng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, nếu tính theo số liệu của hiệp hội, mức tăng trưởng có thể đạt khoảng 20%.
Bà Lê Hằng cũng cho biết, do các yếu tố kỹ thuật và thuế quan, xuất khẩu sang Mỹ tăng trưởng chậm hơn, trong đó một số mặt hàng giảm mạnh trong tháng 2 như cá ngừ giảm 26%, tôm giảm 60%.
Chi phí logistics tăng, rào cản thương mại gia tăng, thúc đẩy đa dạng hóa thị trường
Bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động, việc cập nhật kịp thời thông tin về quy định kỹ thuật, chính sách nhập khẩu từ các nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. “Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động và bất định, việc có hệ thống thông tin sớm về thị trường, quy định kỹ thuật hay chính sách nhập khẩu từ các nước là yếu tố rất quan trọng đối với doanh nghiệp thủy sản”, bà Lê Hằng nhấn mạnh.
Theo VASEP, xung đột địa chính trị tại một số khu vực cùng với việc các hãng tàu quốc tế điều chỉnh tuyến vận tải đang khiến thời gian vận chuyển hàng hóa kéo dài. Đối với các tuyến đi châu Âu và khu vực bờ Đông nước Mỹ, thời gian có thể tăng thêm từ 1–2 tuần, kéo theo chi phí logistics gia tăng đáng kể.
“Các hãng tàu đang phải điều chỉnh tuyến vận tải, khiến thời gian vận chuyển kéo dài, làm tăng đáng kể chi phí logistics đối với doanh nghiệp thủy sản”, bà Lê Hằng cho biết.
Đối với ngành phụ thuộc lớn vào chuỗi lạnh và vận chuyển quốc tế, chi phí logistics tăng trực tiếp ảnh hưởng đến giá thành và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, các rào cản thương mại và biện pháp phòng vệ thương mại tại một số thị trường lớn cũng ngày càng khắt khe.
Một số mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ. Dù kết quả rà soát gần đây có tín hiệu tích cực hơn, mức thuế áp dụng với một số doanh nghiệp vẫn ở mức cao. Đồng thời, các yêu cầu về khai thác bền vững, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc cũng ngày càng chặt chẽ.
Trong bối cảnh đó, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu được xem là hướng đi mang tính chiến lược. Theo bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), hiện xuất khẩu thủy sản vẫn tập trung lớn vào các thị trường như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. “Ngoài các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ và EU, chúng tôi đề xuất mở rộng xúc tiến thương mại sang các thị trường tiềm năng như Brazil, khu vực Nam Mỹ và Nam Á, nhằm giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn”, bà Lê Hằng đề xuất.
Theo bà Lê Hằng, nhiều thị trường tại Nam Mỹ, Trung Đông và Nam Á đang có nhu cầu gia tăng đối với sản phẩm thủy sản, đặc biệt là các sản phẩm có giá cạnh tranh và nguồn cung ổn định. Đồng thời, việc cảnh báo sớm rủi ro, cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp kết nối đối tác quốc tế được xem là yếu tố quan trọng giúp ngành thủy sản duy trì tăng trưởng xuất khẩu.
Về dài hạn, để duy trì vị thế trên thị trường quốc tế, ngành thủy sản cần nâng cao giá trị sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại và tăng cường khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.