Thứ tư 06/05/2026 11:35
Hotline: 024.355.63.010
Kinh doanh

Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ như thế nào ?

15/12/2021 14:30
Nhiều nỗ lực của doanh nghiệp thời đại mới đã được dành cho việc cải thiện bình đẳng giới trong tuyển dụng. Thật không may rằng mặc dù những sáng kiến này có thể giúp các tổ chức có được nhiều ứng viên nữ hơn nhưng chúng thường bị lãng quên khi đề cậ
Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ về cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần.
Xếp hạng hiệu suất làm việc có thể làm tổn thương phụ nữ về cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. (Ảnh: The Japan Times)

Cụ thể, nhiều công ty sử dụng một số hình thức cơ chế xếp hạng để đánh giá hiệu suất của nhân viên so với nhau, sau đó xác định sự thăng tiến cho phù hợp. Nghiên cứu trước đây đã khám phá nhiều ưu và nhược điểm khác nhau của các hệ thống này, nhưng trong một lĩnh vực thì vẫn đề này vẫn chưa được khám phá nhiều là tác động của chúng đối với đại diện giới.

Bằng cách nào mà một hệ thống đánh giá có vẻ khách quan, không thiên vị lại có thể thúc đẩy sự bất công bằng? Một hệ thống quản lý hiệu suất trong đó các nhân viên được xếp hạng với nhau tạo ra một loại môi trường cạnh tranh cụ thể. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nam giới và phụ nữ có thể phản ứng khác nhau khi đối mặt với sự cạnh tranh nhưng những nghiên cứu này chủ yếu xem xét các môi trường mà mọi người cạnh tranh để giành giật nguồn lực vật chất hoặc tài chính khan hiếm. Xếp hạng hiệu suất không nhất thiết liên quan đến cạnh tranh về các nguồn lực hữu hình nhưng chúng tạo ra sự cạnh tranh cho một loại tài nguyên khác: địa vị xã hội.

Để hiểu rõ hơn xếp hạng địa vị xã hội ảnh hưởng khác nhau đến nam giới và phụ nữ như thế nào (và kết quả là các hệ thống đánh giá này có thể cản trở nỗ lực của các tổ chức trong việc giữ chân phụ nữ như thế nào), Klarita Gërxhani - 1 giáo sư xã hội học kinh tế tại Viện Đại học Châu Âu, Florence, Ý – và các cộng sự đã tiến hành một loạt các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm với các sinh viên ở Tây Ban Nha. Sau đó giáo sư này đã nhân rộng quy ra thí nghiệm ra Ý và Hà Lan. Những người tham gia được yêu cầu hoàn thành các bài toán đơn giản trong đó họ tìm kiếm các con số và cộng chúng lại và họ được thông báo rằng họ sẽ nhận được một Euro cho mỗi bài toán mà họ hoàn thành chính xác. Điều này có nghĩa là tất cả họ đều được khuyến khích như nhau để giải quyết các vấn đề và do đó không phải cạnh tranh về các nguồn tài chính. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã nói với một nhóm người tham gia rằng một người ngang hàng sẽ xếp hạng họ với nhau dựa trên hiệu suất của họ trong khi những người tham gia trong nhóm khác không được nói bất cứ điều gì. Điều này cho phép giáo sư Klarita và cộng sự của bà tách biệt tác động của xếp hạng địa vị xã hội.

Nói rõ hơn về thí nghiệm thì điều duy nhất thay đổi giữa hai nhóm là liệu họ có được thông báo trước rằng họ sẽ được xếp hạng hay không - cả hai đều được khuyến khích tài chính theo cách giống hệt nhau. Tuy nhiên, giáo sư và cộng sự nhận thấy rằng chỉ cần dự đoán rằng họ sẽ được xếp hạng đã tác động đáng kể đến hiệu suất của những người tham gia và tác động đó là khác nhau đáng kể đối với nam giới và phụ nữ. Khi những người tham gia không được thông báo rằng họ sẽ được xếp hạng, nam giới và phụ nữ thực hiện ở cùng một cấp độ về cơ bản. Nhưng khi họ được thông báo một cách rõ ràng rằng họ sẽ được xếp hạng, nam giới thể hiện tốt hơn những người không được thông báo bất cứ điều gì, trong khi nữ giới lại thể hiện kém hơn rất nhiều. Điều này dẫn đến sự khác biệt đáng kể về hiệu suất thực: Khi họ biết mình sẽ được xếp hạng, những người tham gia là nam giới đã giải quyết được nhiều vấn đề hơn gần 40% so với những người tham gia là nữ giới.

Điều gì có thể thúc đẩy sự chênh lệch giới tính đáng kể này? Giáo sư Klarita và cộng sự đã tiến hành một loạt các thử nghiệm khác được thiết kế để khám phá câu hỏi này và mặc dù phân tích của nhóm nghiên cứ vẫn đang được xem xét nhưng kết quả sơ bộ chỉ ra rằng ảnh hưởng có thể xuất phát từ những định kiến và niềm tin ăn sâu vào nam giới và phụ nữ. Cụ thể, dữ liệu của nhóm nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin của nam giới (dù có ý thức hay trong tiềm thức) rằng họ hoạt động tốt hơn phụ nữ trong môi trường cạnh tranh khiến họ trở nên nổi trội hơn trong khi việc phụ nữ tuân thủ tiêu chuẩn giới tính khuôn mẫu là ưu tiên không làm hại người khác khiến họ hoạt động kém hơn. Điều này rất quan trọng vì nó cho thấy rằng sự khác biệt về giới do môi trường cạnh tranh gây ra không thể chỉ đơn giản là do quan niệm sai lầm rằng phụ nữ “theo 1 cách tự nhiên” kém cạnh tranh hơn nam giới. Thay vào đó, những môi trường này đã gây ra những thành kiến được xây dựng trong xã hội - đó là giả định rằng nam giới vượt trội hơn và phụ nữ nên tử tế với người khác - từ đó dẫn đến sự khác biệt về giới tính trong hiệu suất làm việc.

Điều thú vị là trong một nghiên cứu tiếp theo, giáo sư Klarita và cộng sự đã phát hiện ra rằng khi những người tham gia được cho biết rằng người đồng cấp sẽ xếp hạng họ là nam giới khi nam giới có mong muốn mạnh mẽ hơn nhiều so với phụ nữ để duy trì tình trạng cạnh tranh này trong khi khi người xếp hạng là nữ thì nam giới và phụ nữ cho xu hướng tương tự để tiếp tục sử dụng hệ thống xếp hạng. Mặc dù việc xác định nguyên nhân của sự khác biệt này nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của giáo sư Klarita nhưng những phát hiện này cho thấy rằng sự khác biệt về giới liên quan đến hệ thống đánh giá cạnh tranh có thể liên quan đến khái niệm được ghi chép đầy đủ về “các mối đe dọa nam tính” - tức là hiện tượng nam giới cảm thấy áp lực hơn để thể hiện sự nam tính trong những tình huống đe dọa sự nam tính của họ chẳng hạn như bị người đàn ông khác đánh giá.

Tóm lại, những phát hiện này cho thấy rằng các hệ thống xếp hạng xã hội cạnh tranh có thể có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất và quan trọng hơn, chúng có thể có những tác động rất khác nhau đối với nam giới và phụ nữ. Điều đó nói lên rằng thật khó để tưởng tượng một thế giới mà sự cạnh tranh bị loại bỏ hoàn toàn - vậy làm thế nào các tổ chức có thể gặt hái được những lợi ích từ môi trường làm việc cạnh tranh mà không khiến nhân viên nữ của họ thất bại? Sau đây là một số gợi ý quan trọng:

Xây dựng nhận thức

Đầu tiên, như với bất kỳ dạng bất công nào, bước đầu tiên để giải quyết vấn đề này là nhận ra nó đã và đang tồn tại ở đó. Các nhà quản lý phải làm việc để xây dựng nhận thức về cách các hệ thống đánh giá truyền thống và “mặc định” có thể vô tình tạo ra một môi trường khiến nam giới hoạt động tốt hơn và phụ nữ hoạt động kém hơn. Thay vì chỉ đơn giản viết rằng hiệu suất thấp hơn là sự thiếu sót của cá nhân hoặc tệ hơn là quy nó là định kiến có hại trên cơ sở giới thì các nhà quản lý nên làm việc để xác định xem hệ thống đánh giá hiệu suất của họ trên thực tế có thể góp phần vào vấn đề như thế nào. Điều này có nghĩa quan trọng là phải thừa nhận không chỉ những mặt trái tiềm ẩn của các hệ thống cạnh tranh nói chung mà còn cả những cách thức cạnh tranh để giành địa vị xã hội cụ thể có thể gây hại cho nhân viên nữ. Trong khi một hệ thống có vẻ không có tính cạnh tranh nếu nó không dẫn đến một cuộc chiến có tổng bằng không chỉ cho các nguồn lực hữu hình (chẳng hạn như ngân sách, tiền lương hoặc văn phòng ở góc) mà còn nếu chỉ riêng yếu tố địa vị xã hội cũng đủ để tạo ra sự chênh lệch đáng kể về giới.

Xem xét các hệ thống đánh giá thay thế

Tiếp theo, nếu có thể thì các tổ chức nên xem xét liệu hệ thống đánh giá của họ có phải được đại tu hay không. Vấn đề ban đầu có vẻ tốn kém và phức tạp nhưng phân tích chi phí - lợi ích về tác động của các mô hình cạnh tranh lên toàn bộ lực lượng lao động (và đặc biệt, lợi ích đối với hiệu suất của nam giới có thể vượt trội như thế nào do tác động tiêu cực đến hiệu suất và động lực của phụ nữ) có thể minh họa giá trị trong việc thử một cái gì đó mới. Nhiều công ty đã đi tiên phong trong các phương pháp tiếp cận hiệu quả để thay thế các hệ thống cũ chẳng hạn như đánh giá thăng tiến tạm thời trong đó các cá nhân được so sánh với thành tích trước đây của họ thay vì so với đồng nghiệp của họ. Ví dụ, gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei được biết đến với việc đánh giá nhân viên về sự phát triển của họ theo thời gian thay vì tập trung vào những so sánh xã hội khiến mọi người chống lại nhau.

Thích ứng với các hệ thống hiện có

Cuối cùng nếu việc xem xét lại hoàn toàn các mô hình cạnh tranh hiện có là điều không cần bàn cãi thì vẫn có những bước mà các nhà quản lý có thể thực hiện để giảm thiểu tác hại trong những hệ thống hiện có. Đặc biệt trong nghiên cứu của giáo sư Glarita cho thấy rằng một trong những lý do chính khiến phụ nữ hoạt động kém hơn trong môi trường cạnh tranh là do họ được kỳ vọng là người chu đáo, khiến họ cố tình tránh thành công vì lo ngại rằng thành công của họ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến người khác. Để giải quyết vấn đề này, các nhà quản lý có thể khuyến khích các đội nhóm của họ thực hiện các chính sách và các buổi đào tạo nhằm chống lại các định kiến giới chẳng hạn như giả định rằng phụ nữ nên được đồng cảm và quan tâm; trong khi nam giới nên độc lập, năng nổ, cạnh tranh và chấp nhận rủi ro.

Ngoài ra, các tổ chức nên làm việc để thiết lập các tiêu chí đánh giá khách quan và rõ ràng để các thành kiến và giả định vô thức ít có khả năng thúc đẩy đánh giá hiệu suất. Mặc dù điều này nghe có vẻ hiển nhiên nhưng những chính sách như thế này có thể mang lại hiệu quả trông thấy trong việc giảm thiểu sự mơ hồ về bình đẳng giới nơi công sở và do đó giảm thiểu sức mạnh của những định kiến có hại.

Từ Amazon đến GE (General Electric – 1 một tập đoàn đa quốc gia Mỹ hoạt động trong đa lĩnh vực bao gồm Năng lượng, Công nghệ, Cơ sở hạ tầng, vốn Tài chính và tiêu dùng công nghiệp) – 2 doanh nghiệp từ lâu đã bảo vệ hệ thống đánh giá trong đó đánh giá và thăng chức dựa trên sự so sánh giữa các nhân viên. Trong khi các mô hình này có thể hiệu quả trong một số tình huống, nhiều người đề xuất sử dụng chúng lại bỏ qua một tác dụng phụ quan trọng: Các hệ thống cạnh tranh có thể thúc đẩy sự chênh lệch đáng kể về giới và do đó ngăn các tổ chức giữ chân các thành viên nữ trong nhóm có thể có năng suất cao theo một hệ thống thay thế. Để đạt được tiến bộ thực sự trong việc giảm bất bình đẳng giới tại nơi làm việc, các doanh nghiệp phải tìm hiểu và đưa ra kết luận cho riêng mình rằng hệ thống nội bộ của chính họ có thể đóng góp như thế nào vào vấn đề và nỗ lực để cải thiện chúng.

Đức Nguyễn

Tin bài khác
Doanh nghiệp Việt sẽ thua ngay nếu không hiểu về "luật chơi" mới trong bối cảnh nhiều đổi thay

Doanh nghiệp Việt sẽ thua ngay nếu không hiểu về "luật chơi" mới trong bối cảnh nhiều đổi thay

Trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn tranh luận về thuế, lãi suất hay sức mua suy giảm, một vấn đề lớn hơn đang âm thầm diễn ra nhưng ít được chú ý, doanh nghiệp Việt đang mất lợi thế không hẳn vì thị trường khó, mà vì chưa theo kịp cách vận hành của hệ thống chính sách và chuẩn mực mới. Khi môi trường kinh doanh ngày càng minh bạch và dựa trên dữ liệu, “hiểu đúng – làm đúng” không còn là yêu cầu phụ trợ, mà đang trở thành năng lực cốt lõi.
Mô hình quản trị gia đình và bài học từ các gia tộc kinh doanh giàu nhất thế giới

Mô hình quản trị gia đình và bài học từ các gia tộc kinh doanh giàu nhất thế giới

Trong hầu hết doanh nghiệp gia đình, người sáng lập không chỉ là người dẫn đường mà còn là trung tâm quyền lực, thủ lĩnh tinh thần, người truyền cảm hứng và định hình văn hóa tổ chức. Nhưng khi doanh nghiệp lớn dần, thách thức không còn nằm ở việc duy trì vai trò trung tâm ấy, mà ở khả năng nâng cấp chính mô hình đã tạo nên thành công ban đầu, để doanh nghiệp có thể vận hành bền vững qua nhiều thế hệ. Làm sao để các thế hệ nối tiếp vận hành hiệu quả hơn, mà không bị những chiếc bóng khổng lồ vô tình tạo rào cản?
Long Châu lấn sân thuốc hiếm: Canh bạc khó hay chiến lược giữ ngôi đầu?

Long Châu lấn sân thuốc hiếm: Canh bạc khó hay chiến lược giữ ngôi đầu?

Trước bài toán người Việt khó tiếp cận thuốc mới, thuốc hiếm và phải chi hàng tỷ USD ra nước ngoài điều trị mỗi năm, Long Châu chọn bước vào một mảng được xem là khó nhằn nhất của ngành dược để mở rộng dư địa tăng trưởng và củng cố vị thế dẫn đầu.
Thấy gì từ việc Vingroup vượt mốc trở thành doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn nhất Việt Nam?

Thấy gì từ việc Vingroup vượt mốc trở thành doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn nhất Việt Nam?

Tính đến tháng 3 năm 2026, Vingroup tăng thêm 37.000 nhân sự, chính thức vượt mốc 105.000 lao động và trở thành doanh nghiệp có quy mô nhân sự lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số, mà ở mô hình quản trị con người quy mô lớn hiếm thấy trong khu vực tư nhân.
Bản  đồ chiến lược của giới tinh hoa và giá trị của những điều không nhìn thấy

Bản đồ chiến lược của giới tinh hoa và giá trị của những điều không nhìn thấy

Trong một buổi chiều giàu năng lượng trí tuệ của cộng đồng doanh nhân, một câu hỏi tưởng như đã cũ bỗng được đặt lại theo cách khiến cả hội trường phải suy nghĩ lại từ đầu: điều gì thực sự tạo nên giá trị của một doanh nghiệp trong thời đại mà những gì có thể nhìn thấy ngày càng trở nên dễ sao chép, còn những gì không nhìn thấy lại âm thầm quyết định toàn bộ cuộc chơi. Tọa đàm “Xây dựng và tích lũy tài sản vô hình: Lợi thế cạnh tranh bền vững”, kết hợp với lễ ra mắt cuốn sách “Giá trị của những điều không nhìn thấy” của Tiến sĩ Nguyễn Trung Kiên, đã thu hút đông đảo doanh nhân, nhà đầu tư và chuyên gia tham dự.
Phó Chủ tịch Vingroup Lê Khắc Hiệp: VinFast thúc đẩy chuỗi liên kết kinh tế Việt

Phó Chủ tịch Vingroup Lê Khắc Hiệp: VinFast thúc đẩy chuỗi liên kết kinh tế Việt

TS. Lê Khắc Hiệp nhấn mạnh VinFast đang tạo lực kéo mạnh mẽ, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, hình thành chuỗi liên kết kinh tế nội địa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt.
Kinh doanh sản phẩm khó nói với ý tưởng quảng cáo độc lạ, Squatty Potty tạo nên cú hích 600 triệu USD

Kinh doanh sản phẩm khó nói với ý tưởng quảng cáo độc lạ, Squatty Potty tạo nên cú hích 600 triệu USD

Có những thị trường tồn tại ngay trong đời sống hàng ngày nhưng lại bị che phủ bởi sự im lặng. Không phải vì nhu cầu thấp, mà vì nhãn hàng thấy khó truyền thông. Từ tiêu hóa, táo bón cho đến những vấn đề cơ thể rất riêng tư, tất cả đều nằm trong vùng “biết nhưng không nói”. Chính vì thế nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng tới kinh doanh từ việc làm marketing cho những sản phẩm, dịch vụ đặc thù này. Nếu truyền không thông thì không thể kết nối khách hàng với sản phẩm.
Biến nắp cống thành ly cà phê và nghệ thuật Ambient Marketing độc đáo

Biến nắp cống thành ly cà phê và nghệ thuật Ambient Marketing độc đáo

Trong bối cảnh đô thị ngập tràn quảng cáo và sự chú ý ngày càng phân tán, quảng cáo xuất hiện dày đặc đến mức bị “vô hiệu hóa” thông điệp, có một khoảnh khắc đủ sức khiến người ta bất ngờ dừng lại: một ly cà phê nóng đang bốc khói… ngay giữa lòng đường. Không quán xá, không biển hiệu, chỉ là một nắp cống và làn hơi nước vô tình được “biến hóa” thành trải nghiệm thị giác đầy tinh tế.
Bảo hiểm nhân thọ tăng cường kiểm soát rủi ro rửa tiền trong bối cảnh “danh sách xám”

Bảo hiểm nhân thọ tăng cường kiểm soát rủi ro rửa tiền trong bối cảnh “danh sách xám”

Dù được đánh giá có rủi ro rửa tiền ở mức trung bình thấp, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ vẫn được yêu cầu siết chặt nhận diện rủi ro từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang nằm trong “danh sách xám” của FATF.
Coteccons đặt cược vào con người và công nghệ cho hành trình phát triển trăm năm

Coteccons đặt cược vào con người và công nghệ cho hành trình phát triển trăm năm

Coteccons cho rằng chìa khóa để phát triển bền vững không chỉ nằm ở doanh thu hay quy mô dự án, mà ở cách doanh nghiệp đầu tư cho con người và công nghệ. Với định hướng lấy ESG làm trục phát triển, nhà thầu này đang xem quản trị nhân sự số là nền tảng để nâng hiệu quả vận hành, giữ chân nhân tài và tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Hãng hàng không biến ghế trống ế ẩm thành mô hình kinh doanh triệu đô

Hãng hàng không biến ghế trống ế ẩm thành mô hình kinh doanh triệu đô

Có một cảm giác mà gần như bất kỳ hành khách nào cũng từng trải qua trên một chuyến bay đường dài: nhìn quanh và bất ngờ nhận ra cả một hàng ghế trống. Bạn nhẹ nhàng kéo tay vịn lên, duỗi người, nằm xuống và trong khoảnh khắc ấy, khoang phổ thông bỗng hóa thành một “chiếc giường trên không”. Điều thú vị là United Airlines không để cảm giác hạnh phúc rất đời thường đó trôi qua như một sự may mắn ngẫu nhiên. Họ biến nó thành sản phẩm, thành trải nghiệm và quan trọng hơn, thành một mô hình doanh thu mới hàng triệu đô, mang tên Relax Row.
Quy định mới về cạnh tranh: Chặn “lách luật” doanh thu

Quy định mới về cạnh tranh: Chặn “lách luật” doanh thu

Nghị định số 102/2026/NĐ-CP vừa được ban hành đã điều chỉnh mạnh khung xử phạt trong lĩnh vực cạnh tranh, bổ sung cơ chế xác định doanh thu và tăng chế tài đối với các hành vi vi phạm, đặc biệt trong hoạt động tập trung kinh tế.
Hộ kinh doanh phải khai báo toàn bộ tài khoản trước các mốc thời hạn quan trọng

Hộ kinh doanh phải khai báo toàn bộ tài khoản trước các mốc thời hạn quan trọng

Từ năm 2026, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh trong quản lý thuế, với yêu cầu minh bạch hóa dòng tiền thông qua việc khai báo đầy đủ các tài khoản sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Quy định mới không chỉ đặt ra các mốc thời hạn cụ thể cần lưu ý, mà còn là bước đi quan trọng trong việc chuyển từ cơ chế thuế khoán sang quản lý theo doanh thu thực tế.
Gia Lai phát triển du lịch đa trải nghiệm: Rừng - biển đảo – cao nguyên

Gia Lai phát triển du lịch đa trải nghiệm: Rừng - biển đảo – cao nguyên

Gia Lai lại sở hữu cả rừng và biển, hướng phát triển du lịch đa trải nghiệm. Cũng sở hữu 2 sân bay và thực hiện theo hướng hỗ trợ lẫn nhau, tỉnh sẽ vận hành “Một sân bay, hai nhà ga” để rút ngắn khoảng cách di chuyển.
Chi phí leo thang, tiêu chuẩn xanh siết chặt: Doanh nghiệp chế biến - bao bì buộc tăng tốc chuyển đổi trong năm 2026

Chi phí leo thang, tiêu chuẩn xanh siết chặt: Doanh nghiệp chế biến - bao bì buộc tăng tốc chuyển đổi trong năm 2026

Năm 2026 đang mở ra một giai đoạn đầy thách thức đối với ngành chế biến - bao bì khi phải đối mặt đồng thời với áp lực chi phí đầu vào gia tăng và các yêu cầu tuân thủ, tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra với doanh nghiệp không còn dừng ở việc “có chuyển đổi hay không”, mà là chuyển đổi như thế nào để vừa đáp ứng tiêu chuẩn, vừa tối ưu chi phí và duy trì năng lực cạnh tranh.