Chính sách giảm 30% thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trong hai năm 2026 và 2027 mở thêm dư địa tài chính cho hộ, cá nhân kinh doanh. Nhưng quyền lợi này đi kèm một điều kiện quan trọng: doanh thu thực tế của cả năm không được vượt 10 tỷ đồng.
Với những hộ kinh doanh có nhiều địa điểm bán hàng, hoạt động trên sàn thương mại điện tử hoặc đồng thời kinh doanh nhiều ngành nghề, việc theo dõi doanh thu càng cần chặt chẽ. Chỉ một lần cộng thiếu doanh thu cũng có thể khiến khoản thuế đã được giảm phải nộp bổ sung.
Ngưỡng 10 tỷ đồng được tính trên tổng doanh thu thực tế
Theo Nghị định 398/2026/NĐ-CP, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh, được giảm 30% số thuế TNCN phải nộp đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 nếu doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng.
![]() |
| Để thực sự được hưởng lợi từ chính sách, hộ kinh doanh cần đồng thời thực hiện tốt việc kê khai doanh thu, quản lý chi phí và lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh các giao dịch kinh tế phát sinh. |
Ưu đãi được áp dụng đối với toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, không phân biệt phương pháp tính thuế TNCN. Nghị định có hiệu lực từ ngày 29/10/2026, nhưng chính sách áp dụng cho cả hai kỳ tính thuế 2026 và 2027.
Điểm đáng chú ý là doanh thu làm căn cứ xét điều kiện giảm thuế phải được xác định theo quy định tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 141/2026/NĐ-CP.
Theo hướng dẫn của Cục Thuế đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, doanh thu không chỉ là tiền bán hàng đã thu được. Cách xác định còn bao gồm các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thanh toán, trợ giá, phụ thu, phụ trội và những khoản thu khác liên quan đến hoạt động kinh doanh. Doanh thu vẫn được tính ngay cả khi người kinh doanh chưa thu được tiền.
Do đó, hộ kinh doanh cần tổng hợp doanh thu từ tất cả hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ căn cứ vào một cửa hàng, một ngành nghề hoặc một kênh bán hàng riêng lẻ. Các khoản thu từ bán trực tiếp, bán hàng trực tuyến, sàn thương mại điện tử và những hoạt động kinh doanh khác đều cần được rà soát để xác định đúng tổng doanh thu thực tế.
Theo điểm c khoản 4 Điều 2 Nghị định 398/2026/NĐ-CP, nếu tổng doanh thu thực tế trong năm vượt 10 tỷ đồng, cá nhân kinh doanh không còn đáp ứng điều kiện giảm thuế và phải nộp bổ sung toàn bộ số thuế TNCN đã được giảm.
Khi doanh thu lũy kế từ đầu năm vượt ngưỡng này, người kinh doanh phải kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03, nộp cùng hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu vượt 10 tỷ đồng. Số thuế phải nộp bổ sung do xác định lại điều kiện giảm thuế không bị tính tiền chậm nộp đến thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ phát sinh doanh thu vượt ngưỡng.
Quy định không tính tiền chậm nộp không đồng nghĩa với việc được giữ lại khoản thuế đã giảm. Đây chỉ là cơ chế xử lý tiền chậm nộp trong trường hợp phải điều chỉnh lại điều kiện hưởng ưu đãi.
Không phải hộ kinh doanh nào cũng phải tính thuế theo chi phí
Một điểm cần phân biệt là ngưỡng 10 tỷ đồng để hưởng ưu đãi giảm thuế không đồng nhất với ngưỡng doanh thu xác định phương pháp tính thuế TNCN.
Theo quy định hiện hành, hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế TNCN. Với doanh thu trên 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng, cá nhân kinh doanh được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập tính thuế. Trường hợp doanh thu trên 3 tỷ đồng, hộ kinh doanh phải áp dụng phương pháp tính thuế trên thu nhập tính thuế, tức lấy doanh thu trừ chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh rồi nhân với thuế suất tương ứng.
Sự khác biệt này quyết định mức độ cần thiết của việc quản lý chứng từ chi phí.
Đối với hộ kinh doanh tính thuế theo phương pháp thu nhập tính thuế, các khoản chi chỉ được chấp nhận khi đáp ứng điều kiện theo quy định. Cục Thuế hướng dẫn ba yêu cầu cơ bản: chi phí thực tế phát sinh và liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định; có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản thanh toán từng lần từ 5 triệu đồng trở lên.
Nếu không chứng minh được tính hợp lệ của khoản chi, hộ kinh doanh có nguy cơ bị loại chi phí khi xác định thu nhập tính thuế. Khi đó, thu nhập tính thuế tăng lên, kéo theo số thuế TNCN phải nộp cao hơn.
Đây là vấn đề đặc biệt cần lưu ý với những hộ có doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm, bởi nhóm này bắt buộc áp dụng phương pháp tính thuế theo thu nhập tính thuế. Với hộ có doanh thu từ trên 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng lựa chọn phương pháp này, việc ghi chép và lưu trữ chứng từ cũng có ý nghĩa trực tiếp đối với nghĩa vụ thuế.
Vì vậy, người kinh doanh cần phân biệt rõ: giảm 30% là giảm trên số thuế TNCN phải nộp, không phải giảm 30% doanh thu hay chi phí. Chính sách ưu đãi không thay thế nghĩa vụ xác định doanh thu, chi phí và kê khai thuế theo đúng quy định.
Đã kê khai thuế trước ngày 29/10 vẫn có thể được hưởng ưu đãi
Một nội dung có lợi cho hộ kinh doanh là chính sách giảm thuế được áp dụng cho cả kỳ tính thuế năm 2026 và 2027, dù Nghị định 398/2026/NĐ-CP chỉ có hiệu lực từ ngày 29/10/2026.
Theo điểm d khoản 4 Điều 2, trường hợp cá nhân kinh doanh đã kê khai thuế TNCN nhưng chưa kê khai khoản thuế được giảm thì có thể lựa chọn khai điều chỉnh, bổ sung hồ sơ đã nộp hoặc xác định khoản giảm khi quyết toán thuế năm theo quy định về quản lý thuế.
Như vậy, việc đã kê khai và nộp thuế trong các kỳ trước không làm mất quyền hưởng ưu đãi, nếu cá nhân đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Đối với cá nhân nộp thuế theo phương pháp tính thuế suất trên doanh thu, nếu số thuế đã nộp lớn hơn số phải nộp sau khi áp dụng mức giảm 30%, khoản nộp thừa được xử lý theo quy định về bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách.
Nghị định cũng quy định trường hợp cá nhân khai bổ sung hồ sơ hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, kiểm toán làm tăng số thuế TNCN phải nộp, phần thuế tăng thêm vẫn được giảm 30% nếu cá nhân còn đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi. Ngược lại, nếu số thuế phải nộp giảm thì số thuế được giảm cũng phải điều chỉnh tương ứng.
Ba mẫu kê khai hộ kinh doanh cần phân biệt
Nghị định 398/2026/NĐ-CP quy định các mẫu kê khai tương ứng với từng tình huống:
Mẫu số 01: Cá nhân kinh doanh tự kê khai khoản giảm thuế, nộp cùng hồ sơ khai thuế theo quý, 6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm hoặc năm.
Mẫu số 02: Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế TNCN cho cá nhân kinh doanh sử dụng khi kê khai khoản giảm thuế cùng tờ khai thuế tương ứng.
Mẫu số 03: Cá nhân kinh doanh sử dụng khi tổng doanh thu thực tế vượt 10 tỷ đồng, phải điều chỉnh số thuế phải nộp và nộp bổ sung khoản thuế đã được giảm.
Để tránh sai sót, hộ kinh doanh nên chủ động đối chiếu doanh thu định kỳ với hóa đơn bán hàng, dữ liệu giao dịch ngân hàng, doanh thu trên các nền tảng trực tuyến và sổ sách kế toán. Những khoản hỗ trợ, thưởng, phụ thu hoặc doanh thu chưa thu tiền cũng cần được rà soát, tránh bỏ sót khi xác định tổng doanh thu năm.
Với những hộ có doanh thu tiến gần ngưỡng 10 tỷ đồng, việc cập nhật doanh thu lũy kế theo tháng hoặc theo kỳ kê khai là cần thiết. Đồng thời, người kinh doanh nên kiểm tra phương pháp tính thuế đang áp dụng, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chi phí nếu thuộc diện tính thuế trên thu nhập và theo dõi việc kê khai giảm thuế trên hệ thống thuế điện tử.
Quyền lợi giảm 30% thuế TNCN chỉ thực sự được bảo đảm khi hộ kinh doanh xác định đúng doanh thu, thực hiện đúng phương pháp tính thuế và hoàn thiện hồ sơ theo quy định. Chủ động kiểm soát ngay từ đầu kỳ sẽ giúp người kinh doanh tránh phải điều chỉnh nghĩa vụ thuế vào cuối năm.