Thứ bảy 10/10/2026 12:02
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Nghiên cứu - Dữ liệu

Vì sao khó xác minh, thu hồi tiền trợ cấp khi người lao động trục lợi bảo hiểm thất nghiệp?

Người lao động đã có việc làm nhưng vẫn nhận trợ cấp thất nghiệp, đến khi cơ quan chức năng phát hiện thì khoản tiền hưởng sai có thể đã được chi trả qua nhiều tháng. Độ trễ dữ liệu, biến động việc làm liên tục và những khoảng trống trong cơ chế đối soát khiến việc phát hiện, xác minh và thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp gặp không ít khó khăn.

Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là chính sách an sinh nhằm hỗ trợ người lao động khi mất việc, đồng thời tạo điều kiện để họ học nghề, tìm kiếm việc làm và quay trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách đang đối mặt với một nghịch lý: Người lao động đã có việc làm mới nhưng thông tin về tình trạng việc làm chưa được cập nhật kịp thời, trong khi tiền trợ cấp vẫn tiếp tục được chi trả.

Có trường hợp người lao động không thông báo việc đã tìm được việc làm để tiếp tục nhận trợ cấp. Cũng có trường hợp phát sinh sai phạm do chưa nắm rõ nghĩa vụ khai báo hoặc thông tin giữa các cơ quan chưa được cập nhật đồng bộ. Dù nguyên nhân khác nhau, việc chi trả không đúng đối tượng đều đặt ra yêu cầu xác minh, xử lý và thu hồi khoản tiền đã hưởng sai.

Điều đáng nói, phát hiện một trường hợp hưởng trợ cấp không đúng quy định mới chỉ là bước đầu. Để xác định chính xác thời điểm người lao động có việc làm, số tiền phải hoàn trả và tổ chức thu hồi trên thực tế, cơ quan chức năng có thể phải đối chiếu nhiều nguồn thông tin, làm rõ các mốc thời gian và thực hiện những thủ tục liên quan.

Dữ liệu đi sau biến động việc làm, khó xác định thời điểm hưởng sai

Vì sao khó xác minh, thu hồi tiền trợ cấp khi người lao động trục lợi bảo hiểm thất nghiệp?

Một trong những nguyên nhân khiến việc phát hiện trục lợi BHTN gặp khó khăn là độ trễ trong cập nhật dữ liệu về tình trạng việc làm của người lao động.

Theo quy định, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp phải thông báo khi thuộc trường hợp có việc làm theo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm phát sinh quan hệ lao động, thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục báo tăng lao động tham gia bảo hiểm và thời điểm thông tin được cập nhật vào hệ thống quản lý có thể không trùng nhau.

Chẳng hạn, một lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bắt đầu làm việc tại doanh nghiệp mới từ đầu tháng nhưng doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục cập nhật thông tin bảo hiểm. Nếu người lao động không chủ động thông báo, cơ quan giải quyết chế độ có thể chưa có đủ dữ liệu để nhận diện kịp thời sự thay đổi này.

Đến khi thông tin được bổ sung và đối chiếu, người lao động có thể đã nhận thêm một hoặc nhiều kỳ trợ cấp không đúng quy định.

Vấn đề không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp cập nhật chậm mà còn ở khả năng kết nối thông tin giữa các hệ thống quản lý lao động, bảo hiểm xã hội và dịch vụ việc làm.

Nếu mỗi cơ quan nắm giữ một phần dữ liệu nhưng chưa có cơ chế chia sẻ, đối soát kịp thời, thông tin về việc người lao động đã quay lại thị trường lao động có thể không được chuyển ngay thành cảnh báo phục vụ giải quyết chế độ.

Trong khi đó, thị trường lao động ngày càng linh hoạt. Người lao động có thể chuyển việc nhiều lần trong thời gian ngắn, làm việc theo hợp đồng có thời hạn, thử việc, thay đổi doanh nghiệp hoặc chuyển sang các hình thức việc làm khác.

Sự dịch chuyển liên tục này khiến dữ liệu việc làm nhanh chóng thay đổi. Nếu hệ thống quản lý chỉ ghi nhận thông tin sau khi các thủ tục hành chính hoàn tất, khả năng theo dõi biến động thực tế sẽ bị hạn chế.

Một người lao động có thể nghỉ việc tại doanh nghiệp A, nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, sau đó làm việc tại doanh nghiệp B và tiếp tục chuyển sang doanh nghiệp C. Khi thông tin giữa các đơn vị chưa được cập nhật đầy đủ, việc xác định thời điểm phát sinh việc làm mới đòi hỏi phải kiểm tra lại hợp đồng, hồ sơ lao động và các chứng cứ liên quan.

Đáng lưu ý, thời điểm bắt đầu làm việc, thời điểm ký hợp đồng và thời điểm tham gia bảo hiểm không phải lúc nào cũng giống nhau. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào một dữ liệu báo tăng bảo hiểm để mặc nhiên kết luận toàn bộ thời gian trước đó là thời gian hưởng trợ cấp sai quy định.

Cơ quan chức năng phải căn cứ điều kiện xác định người lao động có việc làm theo pháp luật áp dụng tại thời điểm phát sinh vụ việc, từ đó xác định chính xác thời điểm chấm dứt hưởng trợ cấp.

Bên cạnh yếu tố dữ liệu, nghĩa vụ khai báo của người lao động cũng là một mắt xích quan trọng.

Một bộ phận người lao động có thể cố tình không thông báo việc đã có việc làm mới nhằm tiếp tục nhận tiền trợ cấp. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt hành vi gian dối có chủ đích với trường hợp khai báo chậm do chưa hiểu quy định hoặc gặp khó khăn trong thực hiện thủ tục.

Nếu quy trình thông báo thay đổi tình trạng việc làm chưa thực sự thuận tiện, thiếu hướng dẫn rõ ràng hoặc chưa hỗ trợ đầy đủ trên môi trường điện tử, nguy cơ phát sinh các khoản hưởng sai có thể gia tăng.

Dù vậy, việc không nắm rõ quy định không đương nhiên loại trừ nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đã hưởng không đúng. Ngược lại, cũng không thể mặc nhiên coi mọi trường hợp hưởng sai là hành vi cố ý trục lợi.

Đây là ranh giới cần được làm rõ trong quá trình xác minh, bởi nó liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

Phát hiện khoản hưởng sai chưa đồng nghĩa có thể thu hồi ngay

Cán bộ Trung tâm Dịch vụ việc làm TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn, kiểm tra hồ sơ của người lao động.
Cán bộ Trung tâm Dịch vụ việc làm TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn, kiểm tra hồ sơ của người lao động

Nếu độ trễ dữ liệu khiến việc phát hiện vi phạm khó khăn thì quá trình thu hồi tiền trợ cấp lại đặt ra những vướng mắc khác.

Trước hết là việc xác định chính xác số tiền phải hoàn trả.

Không phải cứ phát hiện người lao động có việc làm mới là toàn bộ khoản trợ cấp đã nhận trước đó đều trở thành tiền hưởng sai. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định thời điểm người lao động thuộc trường hợp chấm dứt hưởng, các kỳ trợ cấp đã được chi trả và phần tiền không còn đủ điều kiện được nhận.

Quá trình này có thể phải đối chiếu quyết định hưởng trợ cấp, dữ liệu chi trả, thông tin hợp đồng lao động và tài liệu từ doanh nghiệp sử dụng lao động.

Nếu hồ sơ không thống nhất về thời điểm phát sinh việc làm, việc xác minh có thể kéo dài do phải yêu cầu bổ sung chứng cứ.

Khó khăn tiếp theo là người lao động đã chuyển nơi cư trú hoặc nơi làm việc. Trong thị trường lao động có tính dịch chuyển cao, người nhận trợ cấp có thể rời địa phương ngay sau khi tìm được việc làm, khiến việc liên hệ, gửi thông báo và yêu cầu hoàn trả gặp trở ngại.

Một số trường hợp người lao động không hợp tác, không phản hồi yêu cầu làm việc hoặc không tự nguyện hoàn trả tiền hưởng sai. Khi đó, cơ quan chức năng phải tiếp tục thực hiện các bước xử lý theo thẩm quyền và trình tự pháp luật, thay vì có thể thu hồi ngay khoản tiền đã chi.

Ngay cả khi người lao động thừa nhận đã hưởng sai, khả năng thu hồi vẫn phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng người. Với những lao động có thu nhập thấp, công việc bấp bênh hoặc tiếp tục mất việc, việc hoàn trả một khoản tiền đã sử dụng cho sinh hoạt có thể không dễ dàng.

Điều này tạo ra khoảng cách giữa số tiền được xác định phải thu hồi và số tiền thực tế thu được.

Một vấn đề khác là trách nhiệm phối hợp giữa các bên. Trung tâm dịch vụ việc làm, cơ quan bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý liên quan có những chức năng khác nhau trong quá trình tiếp nhận thông tin, giải quyết, chi trả và xử lý chế độ.

Nếu quy trình trao đổi dữ liệu chưa thông suốt, một trường hợp hưởng sai có thể mất nhiều thời gian để được phát hiện, xác minh và xử lý dứt điểm.

Càng phát hiện muộn, số tiền phải thu hồi có nguy cơ càng lớn, trong khi khả năng liên hệ và vận động người lao động hoàn trả có thể giảm đi.

Từ góc độ quản lý, đây không đơn thuần là câu chuyện thu hồi một khoản trợ cấp đã chi sai mà còn phản ánh hiệu quả kiểm soát rủi ro trong quá trình vận hành Quỹ BHTN.

Nếu hệ thống chỉ phát hiện sai phạm sau khi tiền đã được chi trả, cơ quan quản lý luôn phải xử lý hậu quả. Trong khi đó, cảnh báo sớm trước mỗi kỳ chi trả có thể giúp hạn chế đáng kể nguy cơ phát sinh các khoản phải thu hồi.

Những khó khăn trong thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp đã được phản ánh qua số liệu thực tế tại nhiều địa phương.

Theo kết luận giám sát năm 2025 của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh Đồng Nai (cũ), tổng số người hưởng trợ cấp thất nghiệp sai quy định phải thu hồi là 10.017 trường hợp. Trong đó, 8.362 trường hợp đã được thu hồi với số tiền gần 46 tỷ đồng; còn 1.655 trường hợp, tương ứng hơn 8,7 tỷ đồng chưa thu hồi được. Đáng chú ý, cơ quan giám sát chỉ ra tình trạng người lao động vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp vừa có việc làm vẫn xảy ra, trong khi công tác phối hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan chưa chặt chẽ.

Tại Vĩnh Long (cũ), trong 6 tháng đầu năm 2025, cơ quan chức năng phát hiện 59 trường hợp hưởng trợ cấp thất nghiệp sai quy định với tổng số tiền hơn 369 triệu đồng, nhưng mới thu hồi thực tế 9 trường hợp, tương ứng 16,5 triệu đồng. Sự chênh lệch giữa số tiền phát hiện hưởng sai và kết quả thu hồi cho thấy việc xác định vi phạm mới chỉ giải quyết được một phần vấn đề.

Sang năm 2026, công tác rà soát, thu hồi tiếp tục được tăng cường. Riêng quý I, Trung tâm Dịch vụ Việc làm TP. Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định thu hồi trợ cấp thất nghiệp đối với 400 trường hợp, giảm 17,53% so với quý trước.

Các số liệu trên cho thấy một thực tế: Phát hiện hưởng sai đã khó, tổ chức thu hồi còn phức tạp hơn. Khi người lao động thay đổi nơi làm việc, chuyển địa bàn cư trú hoặc không tự nguyện hoàn trả, việc xử lý có thể kéo dài. Trong khi đó, nếu dữ liệu việc làm được cập nhật và đối soát trước kỳ chi trả, nhiều khoản hưởng sai có thể được ngăn chặn ngay từ đầu.

TS Phạm Ngọc Toàn, Giám đốc Trung tâm Thông tin Phân tích dự báo chiến lược và dịch vụ công, thuộc Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động (Bộ Nội vụ), nhìn nhận vấn đề cốt lõi không phải thiếu dữ liệu mà là dữ liệu chưa được kết nối hiệu quả.

“Hiện nay chúng ta không thiếu dữ liệu, nhưng dữ liệu đang bị phân mảng ở nhiều nơi. Vấn đề cốt lõi là làm sao cập nhật dữ liệu theo thời gian thực và xây dựng được cơ chế đối soát tự động để đưa ra các cảnh báo sớm. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường từ dữ liệu, các cơ quan chức năng có thể đi sâu kiểm tra ngay để ngăn chặn kịp thời”, TS Phạm Ngọc Toàn nói.

Nhận định này cho thấy yêu cầu chuyển từ cơ chế kiểm tra sau chi trả sang quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu.

Thay vì chờ phát hiện người lao động hưởng sai qua các đợt rà soát, hệ thống có thể chủ động đối chiếu thông tin về việc làm, tham gia bảo hiểm và tình trạng hưởng trợ cấp để nhận diện những trường hợp có dấu hiệu bất thường.

Chẳng hạn, khi xuất hiện thông tin người đang hưởng trợ cấp đã ký hợp đồng lao động thuộc trường hợp được xác định là có việc làm, hệ thống có thể phát cảnh báo để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra trước kỳ chi trả tiếp theo.

Tuy nhiên, cảnh báo tự động chỉ nên là căn cứ khởi đầu cho hoạt động xác minh, không thay thế việc xem xét hồ sơ và xác định quyền lợi theo quy định. Dữ liệu thiếu hoặc cập nhật chậm cũng có thể tạo ra cảnh báo không chính xác, ảnh hưởng đến người đang hưởng trợ cấp hợp pháp.

Vì vậy, cùng với liên thông dữ liệu, cần chuẩn hóa thông tin, xác định rõ trách nhiệm cập nhật của từng bên và xây dựng quy trình xử lý cảnh báo minh bạch.

Về phía người lao động, thủ tục thông báo có việc làm cần được thiết kế đơn giản, dễ tiếp cận, đồng thời tăng cường hướng dẫn về nghĩa vụ khai báo và hậu quả pháp lý của việc hưởng trợ cấp không đúng quy định.

Về phía doanh nghiệp, việc cập nhật kịp thời biến động lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm không chỉ bảo đảm quyền lợi người lao động mà còn góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ quản lý chính sách.

Trục lợi BHTN làm thất thoát nguồn lực của quỹ và ảnh hưởng đến tính công bằng giữa những người tham gia. Tuy nhiên, muốn xử lý hiệu quả không thể chỉ tăng cường truy thu và xử phạt sau khi vi phạm xảy ra.

Khi dữ liệu việc làm được cập nhật đủ nhanh, các hệ thống có thể kiểm tra chéo và người lao động có thể thực hiện nghĩa vụ khai báo thuận tiện, nhiều khoản chi sai sẽ có cơ hội được ngăn chặn ngay từ đầu.

Thước đo hiệu quả quản lý BHTN vì thế không chỉ là số tiền thu hồi được, mà còn là khả năng phát hiện sớm và giảm số tiền phải thu hồi.

Tin bài khác
Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Thời hiệu khiếu nại lĩnh vực lao động có thể giảm một nửa

Bộ Nội vụ đề xuất rút thời hiệu khiếu nại lần đầu trong lĩnh vực lao động, an toàn, vệ sinh lao động và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ 180 ngày xuống còn 90 ngày, nhằm thống nhất với quy định của Luật Khiếu nại hiện hành.
Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

Hà Nội tôn vinh 30 “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026

30 doanh nghiệp được vinh danh “Doanh nghiệp vì người lao động” năm 2026 không chỉ là những đơn vị thực hiện tốt chính sách lao động, mà còn là các mô hình tiêu biểu về xây dựng môi trường làm việc nhân văn, đối thoại hiệu quả và phát triển bền vững dựa trên nguồn nhân lực chất lượng.
Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thành công ty cổ phần, người lao động không chỉ được tiếp tục hưởng các chế độ về bảo hiểm mà còn có cơ hội mua cổ phần với giá ưu đãi, mua thêm cổ phần theo thời gian cam kết làm việc và được hưởng một số quyền lợi tài chính khác.
Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

20 doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch việc làm tháng 10 tại Đồng Nai đang có nhu cầu tuyển gần 5.000 lao động, chủ yếu ở các vị trí sản xuất trực tiếp, kỹ thuật và lao động có tay nghề, trong bối cảnh đơn hàng cuối năm có xu hướng gia tăng.
Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Vòng quay lãng phí từ giảng đường đến doanh nghiệp

Sinh viên mất nhiều năm học kiến thức, doanh nghiệp tiếp tục mất thêm thời gian và chi phí đào tạo khi tuyển người mới. Khoảng cách giữa giảng đường và công việc thực tế đang tạo ra một vòng quay lãng phí, đòi hỏi nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên cùng thay đổi.
TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

TP. Hồ Chí Minh: Doanh nghiệp cần người, nhiều nhóm ngành vẫn thiếu lao động

Thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh đang cho thấy độ lệch đáng chú ý giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung nhân lực. Trong tháng 9/2026, doanh nghiệp cần hơn 26.500 lao động nhưng chỉ có 17.686 người tìm việc; 21/27 nhóm ngành ghi nhận tình trạng thiếu nguồn cung so với nhu cầu.
Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Hà Nội: Thị trường việc làm cuối năm tăng nhu cầu tuyển dụng

Những tháng cuối năm, nhu cầu tuyển dụng tại Hà Nội tiếp tục gia tăng ở nhiều lĩnh vực, từ xây dựng, sản xuất đến bán lẻ, dịch vụ và kinh doanh trên nền tảng số. Cùng với mở rộng cơ hội việc làm, nhiều doanh nghiệp đưa ra chính sách về thu nhập, bảo hiểm và phúc lợi để thu hút, giữ chân người lao động.
Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Việt Nam - Lào thúc đẩy hợp tác lao động, việc làm đi vào chiều sâu

Hội nghị trao đổi kỹ thuật giữa Bộ Nội vụ Việt Nam và Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào tập trung chia sẻ kinh nghiệm quản lý lao động trong và ngoài nước, phát triển thị trường lao động, an toàn vệ sinh lao động và số hóa dữ liệu, qua đó cụ thể hóa các cam kết hợp tác giữa hai Bộ.
Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Bảo đảm kỹ năng cho người lao động ngay từ đầu vào

Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị hoàn thiện quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm người lao động, đặc biệt người học nghề, tập nghề và thử việc, có đủ kiến thức, kỹ năng trước khi bắt đầu công việc.
7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

7 nhóm công việc không được đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ từ 1/3/2027

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định 7 nhóm công việc không được phép đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc, trong đó có công việc mát-xa, săn bắt thú dữ và các công việc thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc hại. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.
Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Đô thị lõi Hà Nội: Mở rộng không gian việc làm, nâng chất lượng lao động trẻ

Mật độ dân cư cao, tập trung đông trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu cùng hệ thống doanh nghiệp và dịch vụ phát triển tạo lợi thế đặc biệt cho đô thị lõi Hà Nội trong kết nối cung - cầu lao động. Vấn đề đặt ra là làm thế nào biến lợi thế về nguồn nhân lực trẻ thành những cơ hội việc làm ổn định, phù hợp chuyên môn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp.
Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Hà Tĩnh mở rộng cơ hội việc làm cho lao động hồi hương từ Hàn Quốc, Nhật Bản

Gần 300 lao động Hà Tĩnh từng làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS và thực tập sinh tại Nhật Bản theo chương trình IM Japan đã tham gia hội chợ việc làm ngày 18/9. Năm doanh nghiệp mang đến 3.800 vị trí tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực, tạo thêm lựa chọn việc làm cho lực lượng lao động có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài khi trở về địa phương.
Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Hà Nội tuyển gần 1.300 lao động, hơn 700 vị trí thu nhập từ 10 triệu đồng

Phiên giao dịch việc làm tại bốn xã của Hà Nội ngày 19/9 dự kiến tuyển 1.276 lao động, trong đó 321 vị trí có thu nhập từ 15 triệu đồng mỗi tháng trở lên.
Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Vega City hợp tác Đại học Nha Trang phát triển du lịch và nguồn nhân lực

Sáng 15/9, Công ty Cổ phần Vega City ký kết hợp tác với Trường Đại học Nha Trang về phát triển du lịch, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hợp tác hướng đến tăng cường quảng bá điểm đến, mở rộng cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các dự án du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí tại Nha Trang.
Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí đi làm việc ở nước ngoài giảm mạnh, Việt Nam tăng cường quản trị di cư bằng dữ liệu

Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài đã giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập ngay tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%. Những con số này được công bố tại hội thảo quốc gia về chỉ tiêu phát triển bền vững 10.7.1, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu trong thúc đẩy di cư lao động an toàn, hợp pháp và có trật tự.