Đến ngày 31/8/2026, tổng số tiền thuế nợ do cơ quan Thuế tỉnh Tuyên Quang quản lý còn 635,9 tỷ đồng, giảm 4,6% so với tháng 7. So với thời điểm Ban Chỉ đạo đôn đốc thu hồi nợ đọng tiền thuế được thành lập vào tháng 5/2026, quy mô nợ đã giảm gần 140 tỷ đồng.
Kết quả này đưa tỷ lệ nợ thuế so với dự toán thu ngân sách từ 11,3% xuống còn 9,2%. Đáng chú ý, nhóm nợ có khả năng thu giảm 17,25%, còn 340,2 tỷ đồng.
![]() |
| Ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo đôn đốc thu hồi nợ đọng tiền thuế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang |
Nhìn từ góc độ quản lý tài khóa, việc giảm gần 140 tỷ đồng trong khoảng bốn tháng cho thấy các biện pháp đôn đốc bước đầu đã tạo chuyển biến. Tuy nhiên, phần việc còn lại không nhẹ hơn. Mục tiêu đến ngày 31/12/2026 là đưa tỷ lệ nợ thuế xuống dưới 7,5%, tương ứng phải giảm thêm khoảng 200 tỷ đồng.
Con số này bằng gần 31,5% tổng dư nợ hiện tại và tương đương gần 59% nhóm nợ có khả năng thu. Điều đó cho thấy áp lực những tháng cuối năm không chỉ nằm ở tiến độ, mà còn ở khả năng nhận diện đúng từng khoản nợ và lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp.
Một điểm đáng chú ý khác là trong tổng dư nợ 635,9 tỷ đồng, nhóm có khả năng thu chiếm 340,2 tỷ đồng. Phần còn lại khoảng 295,7 tỷ đồng có thể liên quan đến nhiều trường hợp phức tạp hơn và cần được làm rõ theo từng nguyên nhân. Nếu chỉ nhìn vào con số tổng mà không bóc tách chất lượng nợ, công tác thu hồi dễ rơi vào tình trạng dàn đều nguồn lực nhưng hiệu quả không tương xứng.
Nợ thuế có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân: doanh nghiệp chậm thực hiện nghĩa vụ, dự án chưa hoàn tất thủ tục tài chính, vướng quyết toán, nghĩa vụ tiền thuê đất hoặc tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chưa được xác định, thu hồi đầy đủ. Một số trường hợp có thể liên quan đến khó khăn dòng tiền hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ.
Vì vậy, cách tiếp cận theo từng hồ sơ có ý nghĩa quan trọng hơn việc áp dụng cùng một biện pháp cho mọi khoản nợ.
Với trường hợp chây ỳ, cố tình không thực hiện nghĩa vụ, các biện pháp cưỡng chế theo quy định là cần thiết để bảo đảm kỷ luật ngân sách và sự công bằng giữa những người nộp thuế. Ngược lại, đối với khoản nợ phát sinh do thủ tục, quyết toán hoặc vướng mắc giữa các cơ quan, tốc độ tháo gỡ hồ sơ có thể quyết định trực tiếp khả năng thu tiền.
Ở góc độ doanh nghiệp, việc phân loại đúng còn giúp tránh tình trạng một đơn vị đang gặp khó khăn tạm thời bị nhìn nhận giống với trường hợp cố tình né tránh nghĩa vụ. Quản lý nợ thuế hiệu quả vì thế phải đồng thời bảo đảm hai yêu cầu: thu đúng, thu đủ cho ngân sách và không tạo thêm điểm nghẽn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp.
Tại phiên họp lần thứ hai chiều 9/9, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Mạnh Tuấn yêu cầu các thành viên Ban Chỉ đạo triển khai công việc theo nguyên tắc “6 rõ”; lập biểu theo dõi từng khoản nợ, xác định cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, biện pháp xử lý, thời hạn hoàn thành, kết quả đầu ra và những khó khăn cần tháo gỡ.
Cách làm này cho thấy công tác thu hồi nợ đang chuyển từ theo dõi con số tổng hợp sang quản lý cụ thể theo từng địa chỉ. Mỗi khoản nợ phải gắn với nguyên nhân, trách nhiệm xử lý và tiến độ có thể kiểm tra.
Sự phối hợp giữa cơ quan Thuế với Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Kho bạc cùng các đơn vị liên quan cũng là mắt xích quan trọng. Dữ liệu về tài khoản, tài sản, dự án, đất đai, hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các khoản ngân sách đang chi trả có thể giúp cơ quan quản lý xác minh chính xác khả năng thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế.
Trong một số trường hợp, việc khấu trừ nghĩa vụ thuế từ các khoản ngân sách phải thanh toán cho đơn vị nợ thuế có thể rút ngắn quá trình thu hồi. Nhưng hiệu quả vẫn phụ thuộc vào hồ sơ pháp lý đầy đủ, thông tin liên thông và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan.
Mục tiêu giảm khoảng 200 tỷ đồng sẽ khó đạt nếu số thu hồi được lại bị bù trừ bởi các khoản nợ mới phát sinh. Bởi vậy, yêu cầu không để phát sinh thêm nợ mới có ý nghĩa như một “van khóa” đối với quy mô dư nợ cuối năm.
Kết quả giảm gần 140 tỷ đồng từ tháng 5 đến hết tháng 8 là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, chất lượng của đợt thu hồi tiếp theo sẽ được đo không chỉ bằng số tiền nộp vào ngân sách, mà còn bằng số hồ sơ được xử lý dứt điểm, số vướng mắc được tháo gỡ và khả năng duy trì nghĩa vụ thuế ổn định của doanh nghiệp.
Nếu từng khoản nợ được nhận diện đúng bản chất, Tuyên Quang có thể vừa bảo đảm kỷ luật tài chính, vừa giải phóng những nguồn lực đang mắc lại trong thủ tục. Đó mới là giá trị kinh tế lâu dài của công tác quản lý nợ thuế.