Ở nhiều vùng cao, phụ nữ từ lâu đã gắn với nương rẫy, ruộng bậc thang và những mùa vụ nối tiếp nhau. Họ chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hái, phân loại và lưu giữ nhiều kinh nghiệm sản xuất của gia đình, dòng họ, cộng đồng.
Tuy nhiên, làm ra sản phẩm chưa đồng nghĩa với việc được quyết định giá trị của sản phẩm. Khi nông sản chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu, người phụ nữ có thể đảm nhận phần lớn công việc nhưng ít tham gia vào khâu định giá, ký kết tiêu thụ hay lựa chọn thị trường. Công sức bỏ ra nhiều, phần giá trị giữ lại chưa tương xứng.
Sự phát triển của kinh tế hợp tác đang dần thay đổi vị trí ấy. Thông qua tổ hợp tác và hợp tác xã, phụ nữ không chỉ làm đất, thu hoạch mà còn tham gia điều hành sản xuất, kiểm soát chất lượng, tổ chức chế biến, hoàn thiện bao bì và bán hàng. Từ chỗ cung cấp sức lao động, họ trở thành người quyết định một phần hướng đi của sản phẩm.
Điểm chuyển quan trọng nhất không nằm ở số lượng công việc phụ nữ đảm nhận, mà ở quyền tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn. Khi có tiếng nói đối với phương án sản xuất và đầu ra, phụ nữ có điều kiện chủ động hơn trong kinh tế, giảm phụ thuộc vào thương lái và từng bước xây dựng sinh kế ổn định.
![]() |
| Phụ nữ tại cơ sở sản xuất bánh chưng gù ở xã Ngọc Đường, tỉnh Tuyên Quang tham gia gìn giữ nghề truyền thống và tạo sinh kế tại chỗ. Mô hình tạo việc làm cho gần 40 hộ cùng hàng chục lao động nữ địa phương (Ảnh sưu tầm) |
Tại Hợp tác xã Cốm tươi Thơm Thương, tỉnh Tuyên Quang, hạt nếp nương truyền thống đã được tổ chức sản xuất theo một quy trình bài bản hơn. Phụ nữ địa phương tham gia từ lựa chọn nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói và giới thiệu sản phẩm.
Trước đây, nếp và cốm chủ yếu được tiêu thụ trong phạm vi nhỏ, phụ thuộc vào khách quen hoặc thương lái. Khi tham gia hợp tác xã, các thành viên có điều kiện thống nhất quy trình sản xuất, giữ chất lượng đồng đều và chủ động hơn trong tìm kiếm khách hàng. Một sản phẩm mang tính mùa vụ từng bước được đưa lên mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và kết nối với dịch vụ chuyển phát.
Giá trị tạo ra không chỉ nằm ở việc bán được nhiều cốm hơn. Quan trọng hơn, phụ nữ đã biết đưa câu chuyện về giống nếp, mùa thu hoạch, phương pháp chế biến và văn hóa địa phương vào sản phẩm. Những kinh nghiệm từng chỉ lưu truyền trong gia đình được chuyển hóa thành yếu tố nhận diện thương hiệu.
Tại Lào Cai, Hợp tác xã Chế biến thực phẩm Gia Phú lựa chọn hướng phát triển gắn với chế biến sâu. Nông sản và thực phẩm bản địa sau thu hoạch được sơ chế, chế biến, đóng gói theo tiêu chuẩn, qua đó kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị thương mại.
Hướng đi này đặc biệt có ý nghĩa với nông sản vùng cao. Địa hình chia cắt, chi phí vận chuyển lớn và khoảng cách xa thị trường khiến nhiều sản phẩm chịu sức ép tiêu thụ ngay sau thu hoạch. Chế biến giúp giảm tình trạng bán vội, bán rẻ, đồng thời tạo điều kiện hình thành những sản phẩm có thể vận chuyển xa hơn.
Phụ nữ Lào Cai cũng đang tiếp cận mạnh hơn với kỹ năng số. Việc tập huấn vận hành trang quảng bá sản phẩm OCOP, bán hàng trực tuyến và giới thiệu sản phẩm qua mạng xã hội cho thấy hoạt động hỗ trợ đã dần đi xa hơn khâu sản xuất. Trong một thị trường có hàng trăm sản phẩm OCOP, chất lượng vẫn là nền tảng nhưng cách kể câu chuyện, hình ảnh, bao bì và khả năng tiếp cận khách hàng ngày càng quyết định sức cạnh tranh.
![]() |
| Phụ nữ vùng cao Lào Cai trực tiếp tham gia sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm nông nghiệp địa phương (Ảnh: Phụ nữ Việt Nam) |
Tại Lai Châu, phụ nữ dân tộc thiểu số đang hiện diện rõ hơn trong các mô hình dược liệu, cây ăn quả, chè, mắc ca và sản phẩm thủ công. Các cấp Hội đã hỗ trợ thành lập 13 hợp tác xã do phụ nữ quản lý, góp phần giúp hơn 1.450 hộ có phụ nữ vươn lên thoát nghèo.
Ở vùng cao Sìn Hồ, phụ nữ tham gia liên kết trồng và chế biến dược liệu. Một mô hình hợp tác xã tại đây đã phát triển 7 sản phẩm OCOP, liên kết gần 70 hộ trồng khoảng 10 ha atisô theo hướng hữu cơ và tổ chức thu mua nguyên liệu.
Từ những diện tích trồng nhỏ lẻ, việc hình thành liên kết đã giúp người dân có quy trình sản xuất thống nhất và đầu ra rõ ràng hơn. Phụ nữ vừa là người chăm sóc vùng nguyên liệu, vừa tham gia chế biến, đóng gói và giới thiệu sản phẩm. Cây dược liệu nhờ đó không còn chỉ được thu hái, bán thô mà trở thành sinh kế có tổ chức.
Tại Sơn La, vai trò của phụ nữ thể hiện khá rõ trong các hợp tác xã cây ăn quả, nông sản sạch và du lịch cộng đồng. Giai đoạn 2021–2025, toàn tỉnh đã hỗ trợ hình thành 756 mô hình kinh tế, duy trì hoạt động của 149 hợp tác xã do phụ nữ quản lý; nhiều sản phẩm tham gia chương trình OCOP và chuỗi sản xuất của địa phương.
Với những ngành hàng như xoài, nhãn, mận, bơ hay chanh leo, chất lượng sau thu hoạch có ảnh hưởng trực tiếp đến giá bán. Việc phụ nữ tham gia điều hành hợp tác xã, kiểm soát quy trình, phân loại, đóng gói và kết nối tiêu thụ đã bổ sung một lực lượng quản trị ngay tại vùng nguyên liệu.
Khó khăn vẫn nằm ở quy mô sản xuất nhỏ, năng lực bảo quản hạn chế, thị trường thiếu ổn định và kỹ năng bán hàng trực tuyến chưa đồng đều. Đây cũng là khoảng cách giữa một mô hình sinh kế và một chủ thể đủ sức tham gia thị trường dài hạn.
![]() |
| Phụ nữ dân tộc Dao đỏ bảo tồn nghề thêu thổ cẩm truyền thống để phục vụ phát triển du lịch. Vải thổ cẩm thường được người Dao đỏ dùng nguyên liệu chỉ dệt bằng sợi bông, sợi lanh trên rừng, gai nhuộm sậm. Trên chất liệu vải chàm thô, họ tạo hoa văn tinh tế, thêu và chắp ghép thêm những trang sức (Ảnh: VGP/Lê Thanh Cường) |
Điểm chung tại Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu và Sơn La là phụ nữ đang đảm nhận nhiều vị trí trong cùng một chuỗi giá trị. Họ hiểu đặc tính của nguyên liệu, thời điểm thu hoạch, cách chế biến và thị hiếu của người tiêu dùng. Sự tỉ mỉ trong từng công đoạn giúp duy trì độ ổn định của sản phẩm – điều kiện quan trọng để nông sản bước vào cửa hàng, siêu thị hoặc các kênh phân phối hiện đại.
Phụ nữ còn là người gìn giữ tri thức bản địa. Cách chọn hạt nếp, sao chè, sử dụng cây thuốc, chế biến thực phẩm hay tạo hoa văn thổ cẩm đều chứa đựng vốn văn hóa được truyền qua nhiều thế hệ. Khi những tri thức ấy được đưa vào sản phẩm có thương hiệu, giá trị bán ra không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn ở bản sắc và câu chuyện phía sau.
Tác động từ sinh kế của phụ nữ cũng lan trực tiếp tới gia đình và thôn bản. Thu nhập ổn định giúp họ chủ động hơn trong chi tiêu, chăm lo việc học của con và tham gia các quyết định của gia đình. Khi một phụ nữ thành công với mô hình sản xuất, kinh nghiệm thường được chia sẻ cho các thành viên khác, tạo thêm việc làm và thúc đẩy liên kết trong cộng đồng.
Dẫu vậy, trao thêm vai trò kinh tế không nên đồng nghĩa với chất thêm công việc lên vai phụ nữ. Nếu vẫn phải đảm nhận phần lớn việc nhà, chăm sóc con cái và lao động sản xuất, họ sẽ khó dành thời gian cho quản trị, học công nghệ hay tìm kiếm thị trường.
Khoảng trống lớn nhất hiện nay không phải là thiếu sản phẩm, mà là khả năng biến sản phẩm thành hàng hóa có sức cạnh tranh lâu dài. Phụ nữ vùng cao còn gặp khó khi tiếp cận vốn, thiết bị chế biến, kho bảo quản, tiêu chuẩn chất lượng và hệ thống phân phối.
Hoạt động hỗ trợ vì thế không thể chỉ dừng ở các lớp tập huấn ngắn hạn. Dư địa nằm ở khả năng kết nối phụ nữ với doanh nghiệp thu mua, đơn vị bán lẻ, nền tảng thương mại điện tử và các chương trình xúc tiến có theo dõi đầu ra. Cùng với kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản trị tài chính, xây dựng thương hiệu, đàm phán hợp đồng và xử lý đơn hàng cũng ngày càng cần thiết.
Khi được nhìn nhận như một chủ thể kinh tế, phụ nữ có thể tham gia toàn bộ quá trình từ vùng nguyên liệu đến thị trường. Nông sản vùng cao nhờ đó không chỉ đi xa hơn mà phần giá trị giữ lại cho người sản xuất cũng lớn hơn.
Từ Lào Cai, Tuyên Quang đến Lai Châu, Sơn La, phụ nữ đang chứng minh rằng họ không đứng phía sau chuỗi giá trị. Họ là người giữ chất lượng, giữ bản sắc và ngày càng giữ cả nhịp vận hành của thị trường nông sản vùng cao.